Tin tức

Tâm Lý Học Quản Trị Kinh Doanh Thái Trí Dũng, Tâm Lý Học Quản Trị Kinh Doanh

Cuốn sách “Tâm lý học Quản trị kinh doanh” gồm 4 chương, cụ thể: Chương một: Tâm lý và tâm lý học quản trị, chương 2: Nhân cách, chương 3: Tâm lý nhóm và tập thể, chương 4: Giao tiếp của nhà quản trị, chương 5: Tâm lý trong quản trị kinh doanh.

khách tham quan đang xem: Tâm lý học quản trị kinh doanh thái trí dũng

Nội dung mỗi chương đều trình bày rõ những khái niệm và tất nhiên phần câu hỏi ôn tập ở cuối bài.

*

CHƯƠNG I TÂM LÝ VÀ TÂM LÝ HỌC QUẢN TRỊ I. Tâm lý là gì? một. Khái niệm tâm lý: Tâm lý là sự phản ánh sự vật hiện tượng của thế giới khách quan, nãolàm chức năng phản ánh đó. Sự phản ánh này với tính chất chủ thể và mangbản chất xã hội – lịch sử. 2. Đặc điểm của tâm lý người: lúc nói tới tâm lý người cần nắm một số đặc điểm cơ bản sau: – Tâm lý là hiện tượng tinh thần là đời sống nội tâm của con người.Mặc dù nói là tâm lý diễn ra ở não, nhưng những nhà nghiên cứu đã nghiêncứu kỹ não của những nhà bác học và một số nhân vật nổi tiếng để xem với gìkhác biệt ko thì tới nay vẫn chưa phát hiện thấy điều gì khác lạ so vớinão của người thường. thực tiễn chúng ta ko thể cân đong, đo, đếm trựctiếp tâm lý mà chỉ với thể đoán định thông qua những gì cá nhân biểu hiện rabên ngoài. – Tâm lý là một hiện tượng tinh thần sắp gũi, thân thuộc với conngười. Tâm lý ko phải là những gì cao siêu xa lạ, mà chính là những gìcon người suy nghĩ, hành động, cảm nhận… hàng ngày. – Tâm lý người phong phú, phổ biến và đầy tính tiềm tàng. Tâm lýphong phú phổ biến do tâm lý mỗi người một khác, và hơn nữa tâm lý khôngphải là bất biến mà luôn biến đổi theo thời gian. Mặc dù sắp gũi thân thuộcnhưng con người còn rất nhiều điều chưa hiểu rõ về chính tâm lý của mình, vídụ như hiện tượng của những thần đồng, liệu con người với giác quan thứ sáuhay ko,…Điều này tương đương tâm lý là một cánh đồng rộng mênh môngmà những gì khoa học tâm lý nghiên cứu được thì còn giới hạn. một – Tâm lý người với tính chất chủ thể nên tâm lý ko ai giống ai. Domỗi người với cấu trúc hệ thần kinh và cơ thể khác nhau; tuổi tác khác nhau;giới tính khác nhau; nghề nghiệp khác nhau; địa vị xã hội khác nhau; điềukiện sống khác nhau… – Tâm lý người là kết quả của quá trình xã hội hoá. Con người chúngta luôn sống trong xã hội do đó chịu sự tác động của xã hội đó và sẽ cóchung những đặc điểm của xã hội mà mình sống trong đó; ở mỗi giai đoạnlịch sử của xã hội, xã hội đó với những đặc thù riêng, đặc điểm tâm lý xã hộiriêng. – Tâm lý với sức mạnh to lớn. Năm 1902, nhà bác học Cô-phen-hap,người Đan mạch, đã làm thử nghiệm trên một tử tù và chứng minh rằng conngười với thể tự ám thị mình và giết chết bản thân chỉ trong một thời gianngắn. Tâm lý với thể giúp con người tăng thêm sức mạnh, vượt qua khó khănđể đi tới thành công, cũng với thể khiến cho con người trở nên yếu ớt, bạc nhượcvà thất bại. II. Phân loại những hiện tượng tâm lý: một.Phân loại theo thời gian tồn tại và quá trình diễn biến: Theo thời gian tồn tại và quá trình diễn biến những nhà nghiên cứu chiahiện tượng tâm lý ra làm ba loại: quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý và thuộctính tâm lý. – những quá trình tâm lý: là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thờigian tương đối ngắn, với bắt đầu, diễn biến và kết thúc. Ví dụ: những quá trình nhận thức như cảm giác, tri giác, tư duy, tưởngtượng; những quá trình giao tiếp… – những trạng thái tâm lý là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thờigian tương đối dài và đóng vai trò làm nền cho những quá trình tâm lý và cácthuộc tính tâm lý biểu hiện ra một cách nhất định. Với những trạng thái tâm lý 2chúng ta thường chỉ biết tới lúc nó đã xuất hiện ở khách tham quan thân, tuy nhiênthường ko biết được thời điểm bắt đầu và kết thúc của chúng. Ví dụ: Trạng thái tập trung, ưa chuộng, lơ đãng, mệt mỏi, vui, buồn, phấnkhởi, chán nản… – những thuộc tính tâm lý: là những hiện tượng tâm lý đã trở nên ổnđịnh, bền vững ở mỗi người tạo nên nét riêng về mặt nội dung của người đó.Thuộc tính tâm lý diễn ra trong thời gian dài và kéo dài rất lâu với lúc gắn bóvới cả cuộc đời một người. Ví dụ: Tính khí, tính cách, năng lực, quan điểm, niềm tin, lý tưởng,thế giới quan… với thể thể hiện mối quan hệ giữa những hiện tượng tâm lý theo sơ đồsau: những hiện tượng tâm những quá trình những trạng thái những thuộc tâm lý tâm lý tính tâm lý những quá trình tâm lý, trạng thái tâm lý và thuộc tính tâm lý ko hềtách rời nhau mà luôn ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau. 3 2.Phân loại theo sự tham gia điều chỉnh của ý thức người ta chia những hiện tượng tâm lý ra làm hai loại: Dựa theo sự tham gia điều chỉnh của ý thức những hiện tượng tâm lýđược chia thành hiện tượng tâm lý với ý thức và hiện tượng tâm lý vô thức. – Những hiện tượng tâm lý với ý thức: là những hiện tượng tâm lý cósự tham gia điều chỉnh của ý thức, con người nhận biết được sự tồn tại vàdiễn biến của chúng. Ý thức sẽ định hướng, điều khiển, điều chỉnh những hoạt động tâm lýcũng như những hành vi cụ thể ở cá nhân. Ý thức giúp xác định mục đích, vạchra kế hoạch hành động, thúc đẩy và điều khiển con người hành động đúngđắn hơn, tạo ra ý chí. Ý thức tạo ra sự chủ động của cá nhân trong hoạt động.Nó giúp cá nhân định vị được mình trong hiện thực khách quan, nhận diệnđược mình, tự cải tạo bản thân, tự rèn luyện để ngày càng hoàn thiện hơn. Đa số những hiện tượng tâm lý ở người là những hiện tượng tâm lý với ýthức. – Những hiện tượng tâm lý ko với sự tham gia của ý thức (Vôthức): là những hiện tượng tâm lý ko với sự tham gia điều chỉnh của ýthức, con người ko nhận biết về sự tồn tại của chúng. Một số nguyên nhân gây ra những hiện tượng tâm lý ko ý thức là: + Những hiện tượng thuộc về bệnh lý như: bệnh thần kinh, bệnh ảogiác, bệnh hoang tưởng, bệnh say rượu. + Những hiện tượng tâm lý sinh ra với sự ức chế của hệ thần kinhnhư: thôi miên, ám thị, mộng du… + Những hiện tượng tâm lý thuộc về bản năng. + Những hiện tượng tâm lý thuộc về tiềm thức: là những hiện tượngtâm lý vốn ban đầu là với ý thức nhưng do dược lặp đi lặp lại nhiều lần nên ýthức ẩn đi, chỉ lúc cần thiết thì mới quay lại kiểm soát những hoạt động. 4 + Những hiện tượng tâm lý “vụt sáng”. Cách phân loại này được những người làm Marketing rất quan tâm.Kỹ thuật “phỏng vấn tiềm thức” với phương pháp xạ ảnh được những nhànghiên cứu tâm lý khách hàng vận dụng để tìm hiểu rõ những yếu tố thôi thúcngầm khiến cho con người mua một sản phẩm dịch vụ, để từ đó tạo ra tác độngmarketing phù hợp. III. Tâm lý học quản trị: một.mục tiêu nghiên cứu của tâm lý học quản trị: Tâm lý học quản trị là ngành khoa học nghiên cứu việc ứng dụng tâmlý vào công tác quản trị kinh doanh. mục tiêu nghiên cứu của tâm lý học quản trị là: – Sự thích ứng của việc làm SXKD với con người như phân cônglao động, giới thiệu việc thực hiện, tổ chức chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợplý, đưa yếu tố thẩm mỹ vào SXKD… – Mối quan hệ “Người – Máy móc”, nghiên cứu việc thiết kế máymóc phù hợp nhất với tâm sinh lý của người sử dụng. – Mối quan hệ của con người với nghề nghiệp bao gồm lựa chọnnhững người phù hợp với việc làm, đào tạo những kỹ năng liên quan đếnnghề nghiệp… – Sự thích ứng của con người với con người trong SXKD như bầukhông khí tâm lý tập thể, sự hoà hợp giữa những thành viên, mối quan hệ giữalãnh đạo và nhân viên, tạo động cơ thúc đẩy lao động… – Tâm lý tiêu sử dụng. Những khám phá được tâm lý học quả trị tìm ra với thể sử dụng đểthuê những nhân viên giỏi nhất, giảm bớt sự vắng mặt, cải thiện sự truyềnđạt thông tin, tăng thêm sự thảo mãn trong việc làm, giải quyết vô số vấnđề khác. 5 Hầu hết những nhà tâm lý học I/O cảm thấy với sự giống nhau giữa haimặt: khoa học và thực hành. Do đó, trong sự giáo dục những nhà tâm lý học I/Ođều với mô hình người nghiên cứu -ứng dụng, họ được dạy cả cách điều tranghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn. 2.Tâm lý học quản trị và những lĩnh vực tâm lý khác: Tâm lý học quản trị thuộc mảng tâm lý học ứng dụng. Trong số cáclĩnh vực tâm lý học ứng dụng còn với: tâm lý học y khoa, tâm lý học sưphạm, tâm lý học tội phạm, tâm lý học nghệ thuật, tâm lý học tiêu sử dụng, tâmlý kỹ sư,… IV. Phương pháp nghiên cứu của tâm lý học quản trị:một. những nguyên tắc cần tuân thủ lúc nghiên cứu tâm lý người: – Đảm bảo tính khách quan. Tất cả những nghiên cứu khoa học đều đòihỏi phải đảm bảo tính khách quan, nghĩa là phải nghiên cứu đúng bản chấtcủa vấn đề ko được đưa ý chủ quan của cá nhân nghiên cứu vào kết quả.Với việc nghiên cứu tâm lý đảm bảo tính khách quan là rất nan giải vì: thứnhất mục tiêu nghiên cứu của chúng ta là con người- những thực thể đãđược xã hội hoá, do đó mục tiêu này nếu muốn với thể che giấu tâm lý thựccủa mình nếu họ biết đang bị nghiên cứu; thứ hai, chúng ta ko thể nghiêncứu trực tiếp tâm lý người mà chỉ thông qua những gì biểu hiện ra bên ngoàimà đoán định tâm lý bên trong, do đó phải trải qua một quá trình suy luận từđó rất dễ bị chủ quan của người nghiên cứu chi phối. Muốn đảm bảo tính khách quan cần loại bỏ những yếu tố ngoại lai nhưsự sợ hãi, ảnh hưởng của người khác, tâm trạng của người bị nghiên cứu… – Đảm bảo tính toàn diện và tính hệ thống. Con người đóng nhiều vaitrò trong xã hội do đó họ với nhiều mặt biểu hiện khác nhau. Muốn hiểu rõ thấuđáo con người chúng ta cần nghiên cứu tất cả những mặt của họ. 6 – Đảm bảo tính biện chứng và tính lịch sử. Cần nghiên cứu con ngườitrong mối quan hệ tác động qua lại với môi trường. – Đảm bảo tính sâu sắc và khoa học. những nghiên cứu cần phải đượcchứng minh là với tính hiệu lực và với độ tin cậy ở mức được phép chấpnhận. – Phải kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu. Đây là nguyên tắc tuyệtđối cần tuân thủ. Mỗi phương pháp nghiên cứu tâm lý đều là nghiên cứugián tiếp, những kết luận được đưa ra luôn thông qua sự suy đoán của ngườinghiên cứu nên sai số xảy ra thường lớn, để đảm bảo độ chính xác trongnghiên cứu cần kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu.2. những phương pháp nghiên cứu: – Quan sát: là phương pháp sử dụng những giác quan để tri giác đối tượngvà thông qua những gì tri giác được mà đoán định về tâm lý của mục tiêu. Quan sát là sử dụng tai để nghe, mắt để nhìn, mũi để ngửi mùi, da để cẩmnhận sự đụng chạm và thông qua đó đoán định tâm lý của mục tiêu. – Đàm thoại (phỏng vấn): Là phương pháp mà người nghiên cứu đặtra một loạt câu hỏi trong cuộc tiếp xúc trực tiếp để thông qua câu trả lời màđoán định tâm lý của mục tiêu. Một cuộc đàm thoại thường chia làm 3 giaiđoạn: Giai đoạn mở đầu: người nghiên cứu đặt ra những câu hỏi tiếp xúc,những câu hỏi mà người được hỏi dễ trả lời và sẵn sàng trả lời, nhằm tạo rakhông khí thân mật, tin cậy giữa hai bên. Giai đoạn chính của cuộc đàm thoại: tuỳ mục đích người nghiêncứu sẽ đặt những câu hỏi để đạt mục đích tìm hiểu rõ. với thể sử dụng những dạng câuhỏi: thẳng, chặn đầu, hỏi vòng quanh. Giai đoạn cuối của cuộc đàm thoại: trở lại những câu hỏi tiếp xúc,nhằm giải toả căng thẳng cho mục tiêu. 7 – Phương pháp bảng câu hỏi: là phương pháp sử dụng một bảng câu hỏisoạn sẵn và dựa vào câu trả lời để giới thiệu tâm lý của mục tiêu. – Phương pháp trắc nghiệm: là phương pháp sử dụng những phép thử,thường là những bài tập nhỏ, đã được kiểm nghiệm trên một số lượng ngườivừa đủ tiêu biểu, và sử dụng kết quả của nó để giới thiệu tâm lý của mục tiêu. – Phương pháp thực nghiệm: là phương pháp mà người nghiên cứuđưa mục tiêu vào những tình huống thực tiễn trong hoạt động hàng ngày của họ,chính người tham gia cũng ko biết là mình đang bị nghiên cứu, ngườinghiên cứu với thể chủ động tạo ra những tình huống đặc thù để mục tiêu bật ratâm lý thực. Phương pháp này thường được nhà quản trị sử dụng lúc muốn tìmhiểu tính cách của nhân viên mình, lúc muốn kiểm tra năng lực của một cánbộ, nhân viên sắp được đề bạt, lúc muốn kiểm tra mô hình quản lý mới. – Phương pháp nghiên cứu tiểu sử: là phương pháp nghiên cứu cácmối quan hệ xã hội của mục tiêu để suy ra tâm lý của họ; lúc nghiên cứucần nghiên cứu về gia tộc huyết thống của người đó, những mối quan hệ xã hội,nhịp sống xã hội của người đó. – Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: là phương pháp thông qua cácsản phẩm mà người đó làm ra để đoán định tâm lý của họ. – Phương pháp trắc lượng xã hội: người nghiên cứu đưa ra một bảnghỏi từ 8-10 câu xoay quanh việc mục tiêu sắm ai hoặc ko sắm ai, thíchai, ko thích ai để từ đó nghiên cứu ra mối quan hệ trong nhóm và tập thể. V. Lịch sử phát triển của tâm lý học quản trị: Lịch sử tâm lý học quản trị với thể chia thành những giai đoạn sau: một. Những năm đầu 1900-1916 – Giai đoạn hình thành: Giai đoạn này đánh dấu sự ra đời của tâm lý học quản trị. Tâm lý họcquả trị ra đời từ sự kết hợp tự nhiên giữa ý tưởng nghiên cứu tâm lý để vận 8dụng vào trong thực tiễn và sự mong muốn của những kỹ sư công nghiệp trongcải tiến năng suất lao động. Những dấu ấn lớn của giai đoạn này là: – Năm 1897 W.L.Bryan viết một bài báo (Bryan &Harter, 1897) vềphát triển kỹ năng nghề nghiệp của nhân viên điện báo trong việc gửi vànhận tín hiệu Morse. – Cặp vợ chồng Frank and Lillian Gilbreth góp phần tiên phong chonhững hiểu rõ biết về thời gian cử động trong sản xuất công nghiệp. LillianGilbreth trong một bài phát biểu trước những kỹ sư năm 1908 đã vạch ra sự cầnthiết mà tâm lý học cần phải với trong những trương trình làm việc được những kỹsư công nghiệp vạch ra. – Walter Dill Scott với hai cuốn sách: lý thuyết quảng cáo (1903) vàtâm lý học trong quảng cáo (1908). – Frederick W. Taylor với quyển sách những nguyên lý của quản trịkhoa học (1911) đã chứng minh rằng những người lao động làm việc luyệnkim nặng nhọc sẽ làm việc hiệu quả hơn nếu họ với những lúc nghỉ ngơi. – Hugo Münsterberg với quyển sách của ông Tâm lý học và năngsuất công nghiệp (1913) phân biệt 3 phần: lựa sắm người lao động, thiết kếđiều kiện làm việc, và sử dụng tâm lý học trong bán hàng. Như vậy, sự kết hợp của tâm lý học với những quan tâm ứng dụngvà những doanh nghiệp trong việc tăng hơn hiệu quả công nghiệp đã gópphần ra đời tâm lý học quản trị. I/O. Năm 1910 “tâm lý học công nghiệp” (từ“quản trị” chỉ được sử dụng từ những năm 1970) đã chuẩn xác trở thànhmột lĩnh vực riêng biệt của tâm lý học. 2. Giai đoạn 1917-1945- Giai đoạn phát triển và khẳng định vai trò: Giai đoạn này tâm lý học quản trị chịu tác động mạnh mẽ của hai cuộcchiến tranh thế giới. với thể chia thành những giai đoạn nhỏ như sau: Giai đoạn 1917-1918: 9 Chiến tranh thế giới thứ nhất đã đưa tâm lý học nói chung và tâm lýquản trị nói riêng lên vị trí được tôn trọng. Để phục vụ cho thuận tiện của Tổ quốc mình trong cuộc chiến tranh,những nhà tâm lý học quả trị đã đẩy mạnh những nghiên cứu như: chiếu phimcho lính mới để củng cố tinh thần và xếp đặt những tân binh mới được tuyển vàocác việc làm trong quân đội, nghiên cứu động cơ thúc đẩy, tinh thần , cácvấn đề tâm lý lúc cơ thể mệt mỏi, kỷ luật của người lính. Tuy nhiên khôngphải tất cả những điều mà những nhà tâm lý học đề nghị đều được quân đội sửdụng, chỉ một số rất khiêm tốn những đề nghị được chấp thuận, hầu hết chúngliên quan tới việc giới thiệu tân binh. Với những nghiên cứu và đóng góp, những nhà tâm lý được coi trọngnhư những người với thể tạo ra những đóng góp với giá trị cho xã hội và choviệc ứng dụng của những doanh nghiệp, và cho nền kinh tế. Cũng năm 1917 tạp chí lâu đời và tiêu biểu nhất trong lĩnh vực tâm lýhọc quản trị – Tạp chí tâm lý học ứng dung- bắt đầu được xuất bản. Một sốbài báo trong số thứ nhất là “Những mối quan hệ thực tiễn giữa tâm lý học vàchiến tranh” của Hall, “Kiểm tra trí lực của sinh viên đại học” của Bingham,và “Người khờ dại là một vấn đề của chiến tranh” của Mateer. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, là thời kỳ bùng nổ những nhà hàng tưvấn và những cơ quan nghiên cứu tâm lý. Sự ra đời của những cơ quan này báohiệu kỷ nguyên mới của tâm lý học quản trị. Giai đoạn 1919-1940: Giai đoạn này xã hội đã bắt đầu nhận thức rõ rằng tâm lý học quản trịcó thể giải quyết những vấn đề của thực tiễn. Tiếp sau chiến tranh, một vàicơ quan nghiên cứu tâm lý thực sự đạt tới thời kỳ rực rỡ. Tiêu biểu như ởMỹ Viện nghiên cứu nghệ thuật bán hàng của trường Đại học kỹ thuậtCarnegie được Walter Bingham phát triển thêm. 27 nhà hàng hợp tác với Bingham, 10mỗi nhà hàng góp khoảng 500USD hàng năm làm kinh phí nghiên cứu ứngdụng tâm lý. Viện tập trung vào lựa sắm người bán hàng, tuyển sắm, phânloại, và phát triển những nhân viên văn phòng và cơ quan hành pháp.

Xem thêm: Cách Chơi Game Sky Garden – Sky Garden Paradise: Nong Trai

những nhàtâm lý học tập trung đưa tâm lý trở thành lĩnh vực kinh doanh vì sự tiến bộcủa tâm lý học và đẩy mạnh việc sử dung nó hữu ích hơn trong công nghiệp. Năm 1924 nghiên cứu ở Hawthorne “ là biểu tượng của chương trìnhnghiên cứu rất cần thiết nhất thể hiện sự liên hệ to lớn của vấn đề sản xuấttrong mối quan hệ với hiệu quả” bắt đầu được triển khai. (Blum & Naylor,1968). Nghiên cứu ở Hawthorne là một dự án kinh doanh chung giữa Côngty điện tử miền Tây và cá nhân những nhà nghiên cứu của Đại học Harvard,dưới sự chủ trì của Elton Mayo. Bắt nguồn của nghiên cứu là do người ta thửtìm kiếm mối liên hệ giữa ánh sáng và năng suất lao động. những nhà nghiêncứu đưa ra những chế độ ánh sáng khác nhau trong phòng làm việc nơi sản xuấtcác dung cụ điện tử. Trong một số trường hợp, ánh sáng với cường độ mạnh,trong những trường hợp khác, chúng được giảm bớt tương đương với ánhsáng trăng. Điều ngạc nhiên vô cùng đối với những nhà nghiên cứu, năng suấtlao động với vẻ như ko liên quan tới mức độ chiếu sáng. Điều đó khiếncác nhà nghiên cứu phải giả thuyết là một số yếu tố khác đã ảnh hưởng đếnnăng suất lao động. Một trong những khám phá rất cần thiết từ nghiên cứu là hiện tượngđược gọi là hiệu ứng Hawthorne . những nghiên cứu Hawthorne cũng phát hiệnsự tồn tại thông tin việc làm của nhóm nhân viên và sự kiểm tra sản xuấtcủa họ, cũng rất cần thiết chẳng khác gì thái độ của người lao động, giá trịcủa việc với sự đồng tình và người giám sát hiểu rõ biết, và nhu cầu được đối xửnhư con người thay thế cho việc coi họ đơn thuần là tiền vốn con người. Sự 11phát hiện của họ về sự rắc rối của hành vi con người mở ra một khung cảnhmới cho tâm lý học quản trị. Nghiên cứu Hawthorne đã mở ra những hướng nghiên cứu mới. Tâmlý học quản trị ko còn đơn điệu nữa. Giai đoạn 1941-1945: Trong thời gian này, những nhà tâm lý học nghiên cứu những vấn đề tuyểnchọn người lao động và xếp đặt việc làm và tiến hành lựa sắm họ với nhữngkỹ thuật lớn lao hơn. Để phục vụ cho chiến tranh, những quân đội quan tâmmạnh mẽ hơn trong chiến tranh thế giới thứ nhất về kiểm tra để với thể xếphạng lính mới, những phương pháp lựa sắm người cho đào tạo sĩ quan, test vềtài năng nghề nghiệp, và bổ sung thêm những test giới thiệu thái độ. Ngoài raquân đội cũng quan tâm tới phát triển và sử dung những bài test về stress dohoàn cảnh, được sử dụng cho những đơn vị tình báo quân đội. Trong lĩnh vực lựachọn và đào tạo phi công để lái máy bay chiến đấu những nhà tâm lý tham gianghiên cứu hai vấn đề phát hiện những ứng viên tốt để lựa sắm sử dụng và đàotạo thành phi công (đây là lĩnh vực truyền thống của tâm lý cá nhân) và cáctrang bị với thể phác họa làm việc làm của phi công trở nên thoải mái và antoàn (một lĩnh vực mới của tâm lý học). Trong giai đoạn này việc sử dụng những test cho nhân viên trong côngnghiệp tăng lên nhiều. Vì những doanh nghiệp cần một lực lượng lao động sảnxuất ra nhiều, những nhà tâm lý được gọi tới giúp làm giảm sự vắng mặt củangười lao động (Pickard, 1945). Công nghiệp khám phá rằng một số kỹ thuậtcủa những nhà tâm lý học công nghiệp rất với ích, đặc trưng là trong lĩnh vựctuyển sắm, đào tạo, và thiết kế máy móc, và những nhà lãnh đạo côngnghiệp đã đặc trưng quan tâm tới những ứng dụng của tâm lý học xã hội. 12 Trong giai đoạn tiếp theo của lịch sử tâm lý học quản trị chứng kiếnsự tiến triển của môn học thành chuyên ngành đặc trưng với chuyên môn ởcác mức độ cao hơn về học thuật và khoa học. 3. Giai đoạn phân hoá (1946-1963): Trong thời kỳ này, tâm lý học quản trị tiến triển thành lĩnh vực chínhthống của khoa học khảo sát, tự nó đã với uy tín như một nghề thực nghiệmđược thừa nhận. Nhiều trường đại học và tổng hợp mở cá lớp “tâm lý họccông nghiệp”, và đào tạo cả cấp độ cao học và tiến sĩ. Sự quan tâm tới mộtchuyên ngành bắt đầu kết tinh, và tâm lý học công nghiệp tạo thành một lĩnhvực riêng. những tạp chí mới ra đời cùng với sự ra đời những hiệp hội nghềnghiệp mới. Trước hết là tâm lý học kỹ sư, ra đời trong thời gian chiến tranh thếgiới thứ hai, đã được thừa nhận như một lĩnh vực riêng biệt, trong đó với sựảnh hưởng mạnh của những sách như Ứng dụng tâm lý học thực nghiệm(Chapanis, Garner & Morgan, 1949) và Sách hướng dẫn những dữ liệu củangười kỹ sư (1949). Tâm lý học kỹ sư bắt đầu một thời kỳ bùng nổ và lớnlên từ 1950 tới 1960. Tâm lý học kỹ sư là sự pha trộng cả tâm lý học thựcnghiệm và tâm lý học công nghiệp. Vào những năm 1950, sự quan tâm tăng lên đối với nghiên cứu tổchức. những nhà nghiên cứu dành sự ưa chuộng hơn tới những ảnh hưởng của xã hộiđã tác động tới hành vi trong tổ chức. những điều kiện như sự thay đổi của tổchức và sự phát triển của tổ chức được xuất bản thành tài liệu thường xuyênhơn. Hành vi tổ chức là sự pha trộn của tâm lý học công nghiệp, tâm lý xãhội và xã hội học. 4. Giai đoạn với sự giám sát của chính phủ (1964 tới nay): Vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960, dưới tác động củaLiên Hiệp Quốc về vấn đề nhân quyền, những quốc gia bắt đầu tăng cường 13quan tâm tới quyền của công dân, tới những khía cạnh công bằng trong côngviệc. Từ trước đó Tâm lý học quản trị đã được xem như một nghề, những nhàtâm lý học quản trị tương đối được tự do và ít bị kiểm soát trong việc sửdụng trạng thái muôn màu muôn vẻ rộng lớn của những phương pháp đánh giátâm lý (như là, test, phỏng vấn, và vân vân) để đưa ra những quyết định về laođộng. Kết quả của những quyết định lao động dựa trên giới thiệu tâm lý bị cholà tạo ra sự hạn chế và ko cho phép những nhóm thiểu số (đáng kể nhất làngười da đen và nữ giới) tham gia làm việc. những chính phủ bắt đầu qui địnhsự giám sát và những thủ tục cá nhân của người lao động. Như vậy, tâm lý học quả trị phục vụ cả hai yêu cầu. Thứ nhất là thựchiện việc làm với chất lượng tốt, điều đó dẫn tới những nghiên cứu khoa họchoặc những dịch vụ phục vụ cho khách hàng. Thứ hai là hoàn thành sự khảo sát vàđánh giá của chính phủ. những nhà tâm lý học quản trị hiện nay đã chấp nhậntầm rất cần thiết của việc nhận trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của mình. Sự giám sát của pháp luật, nhắc nhở những nhà tâm lý học quản trị mởrộng tầm nhận thức của họ để đảm bảo được chấp nhận những vấn đề họ hướngđến và những giải pháp họ đề xuất. Một nhà tâm lý học tiên tiến đòi hỏi phảilưu tâm những qui định của luật pháp. CÂU HỎI một. Hãy nêu những đặc điểm của tâm lý người và cho biết ý nghĩa của nó đối với hoạt động của nhà quả trị. 2. Hãy nêu cách phân loại những hiện tượng tâm lý theo quá trình diễn biến và thời gian tồn tại. Cho biết ý nghĩa của những phân loại đối với việc định hướng cho hoạt động xây dựng văn hoá tổ chức? 14 3. Hãy nêu những hiện tượng tâm lý theo sự tham gia của ý thức. Cho biết ý nghĩa của nó đối với việc định hướng hoạt động nghiên cứu hành vi người tiêu sử dụng. 4. Trình bày những nguyên tắc cần tuân thủ lúc nghiên cứu tâm lý người. 5. Nghiên cứu tâm lý với thể sử dụng những phương pháp nào? 6. Tâm lý học quản trị đã trải qua những giai đoạn phát triển nào? CHƯƠNG II NHÂN CÁCH I. Một số khái niệm: một. Con người: Con người là khái niệm chung nhất để chỉ bất kỳ người nào trong xãhội, trong tự nhiên. Con người được hiểu rõ theo hai mặt: mặt sinh vật và mặtxã hội. Về mặt sinh con người là sinh vật ở bậc thang cao nhất của sự tiếnhóa. Về mặt xã hội, con người sống trong xã hội, với mối quan hệ với xã hội,với những vị trí, vai trò, nhiệm vụ và quyền lợi nhất định trong xã hội và bịchi phối bởi những mối quan hệ xã hội. 2. Cá nhân: Cá nhân là một con người riêng biệt, cụ thể nào đó với những đặcđiểm riêng biệt về mặt sinh vật và xã hội đặc trưng cho con người đó. Mỗingười đều là một cá nhân. 3. Nhân cách: Từ nhân cách (personality) được bắt nguồn từ thuật ngữ Latinh cónghĩa là mặt nạ, nhấn mạnh tới tàm rất cần thiết của những tác động bênngoài. với nhiều định nghĩa về nhân cách, Allfort (1961) đã phân biệt cácđịnh nghĩa thành 3 loại: đang quan tâm bên ngoài, cấu trúc nội tại và quan điểmthực chứng. Theo Đà Nẵng Discovery với thể coi nhân cách là toàn bộ những đặc điểm 15tâm lý đã ổn định của cá nhân tạo nên giá trị xã hội, hành vi xã hội của cánhân. lúc được sinh ra cá nhân chưa phải là một nhân cách. Nhân cách hìnhthành trong quá trình cá nhân sống và vững mạnh trong xã hội. Tuỳ theo điềukiện sống mà nhân cách sẽ phát triển theo chiều hướng nào. Thông thườngkhi ý thức phát triển tới một trình độ nào đó thì nhân cách mới bắt đầu hìnhthành, và phát triển theo quá trinhd trưởng thành của con người. Sự hìnhthành và phát triển nhân cách phụ thuộc vào những yếu tố sau: – những đặc điểm bẩm sinh di truyền. – Giáo dục của cả gia đình và xã hội đóng một vai trò chủ đạo. – Hoạt động của cá nhân – Qua hoạt động giao lưu. II. Cấu trúc của nhân cách theo quan điểm của tâm lý học hoạt động: một. Xu hướng: Xu hướng là sự hướng tới một mục tiêu, một mục tiêu nào đó, là mộthệ thống những nhân tố thúc đẩy bên trong qui định tính tích cực của conngười trong hoạt động của họ. Xu hướng biểu hiện qua những nhu cầu, hứng thú, niềm tin, lý tưởng…của cá nhân mà nếu tập hợp lại chúng sẽ xác định mục đích thế giới củacon người. Nhu cầu Nhu cầu là những gì mà cá nhân cần được thỏa mãn để sống, để hoạtđộng. Nhu cầu là biểu hiện của xu hướng về mặt nguyện vọng. Nhu cầu nảysinh từ mối quan hệ giữa hoàn cảnh bên ngoài với điều kiện bên trong của 16con người, nó biểu hiện sự phụ thuộc của con người vào hoàn cảnh sống cụthể đó, chứ ko phải nảy sinh từ ý thức hay ý chí chủ quan của cá nhân. với một số cách phân loại nhu cầu: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần: một). Nhu cầu vật chất (nhu cầutự nhiên) là nhu cầu đông đảo do bản năng sinh ra như ăn, mặc, ở, hương tiệnsinh hoạt, bảo toàn nòi giống…; 2). Nhu cầu tinh thần (nhu cầu xã hội)chủyếu do tâm lý tạo nên nói lên bản chất xã hội của con người. Hứng thú : Hứng thú là sự xuất hiện sự ưa chuộng đặc trưng của con người tới một đốitượng nào đó, là sự khao khát của con người muốn tiếp cận tới đối tượngnhu cầu để đi sâu tìm hiểu rõ. Hứng thú là biểu hiện của xu hướng về mặt nhận thức của cá nhân đốivới sự vật và hiện tượng xung quanh. Hứng thú giúp cho con ngườI hăng saylàm việc, quên mệt mỏi, là một nhân tố kích thích hoạt động của con người,kích thích năng lực tìm tòi sáng tạo. Muốn cho nhân viên với hứng thú làm việc phải: – Nêu được ý nghĩa, tầm rất cần thiết, thuận tiện của việc làm đối vớicông ty và với bản thân họ. – Làm cho họ hiểu rõ rõ cách thức thực hiện việc làm đó. Thế giới quan: Thế giới quan là hệ thống quan điểm của cá nhân về tự nhiên, xã hộIvà bản thân, xác định phương châm hành động của người đó. Nó quyết địnhnhững phẩm chất và phương xu hướng của nhân cách. Lý tưởng: Lý tưởng “ Chính là dòng mà vì nó người ta sống, dưới ánh sáng củanó người ta hiểu rõ được ý nghĩa của cuộc đời mình”. 17 Lý tưởng là mục tiêu cao xinh, mẫu mực và hoàn chỉnh với tác động lôicuốn mạnh mẽ toàn bộ thế giới của cá nhân trong suốt thời gian dài hoặccả đời người. Lý tưởng là sự hoà hợp của những hoạt động nhận thức, tình cảmvà ý chí. Lý tưởng vừa với tính hiện thực, vừa với tính lãng mạn, lại mang tínhlịch sử xã hội và tính giai cấp. a. Năng lực: Năng lực là năng lực của cá nhân với thể thực hiện một hoạt động nàođó, làm cho hoạt động đó đạt tới một kết quả nhất định. Năng lực được hình thành , thể hiện và phát triển trong hoạt động. Nóchỉ tồn tại trong mối quan hệ với một hoạt động nhất định. lúc giới thiệu năng lực của một người, cần nhắm nhiều yếu tố baogồm: • những yếu tố để tạo thành năng lực: o những yếu tố thuộc sinh lý, cơ thể bẩm sinh o Sự giáo dục mà họ được hưởng o triết lý và sự từng trải của họ o Sự rèn luyện, tập luyện, sự chuyên cần, chăm chỉ…Những phẩmchất ý chí… • những yếu tố trực tiếp trong hoạt động của họ: o Con đường đi tới kết quả việc làm là con đường nào? (cách thức,tính độc lập, độc đáo, tính sáng tạo, khoa học…) o Hiệu suất việc làm (thời gian, sức lực và tiền bạc, nguyên vậtliệu…) o Kết quả: mức độ đạt tới về chất lượng, số lượng. Trong phân công công tác cho một cá nhân, nếu hợp với năng lực củahọ, tạo điều kiện cho họ phát huy tối đa năng lực của mình thì kết quả sẽ rấttốt. Người lãnh đạo giỏi là người lãh đạo nhìn thấu cả năng lực còn chưa bộc 18phát của nhân viên để giao việc làm cho họ khiến cho họ phát huy được nănglực của mình. b. Tính cách: Tính cách là một tổng hợp những thuộc tính tâm lý đặc trưng của cánhân, phản ánh mối quan hệ của cá nhân với hiện thực và biểu hiện ở nhữnghành vi, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân đó. Tính cách biểu hiện mặt xã hội của con người. Tính cách của mỗi cánhân được hình thành dần trong quá trình xã hội hoá, tính cách do giáo dụcvà do học tập mà hình thành. Tính cách luôn với hai mặt nội dung và hình thức. Nội dung là hệ thống thái độ bên trong của cá nhân đối với hiện thựcnhư là đối với xã hội, đối với lao động, đối với bản thân, đối với tàisản…Thái độ đối với xã hội phản ánh mối quan hệ giữa cá nhân với tổ chức,với mọi người xung quanh, nó thể hiện tình yêu thương, tôn trọng, lòng tậntụy…hay sự ghét bỏ, thù hằn, khinh miệt, hờ hững…tinh thần hy sinh vì mọingười, vì thuận tiện chung…; Thái độ đối với lao động là ý thức tổ chức, kỷluật, tính yêu lao động, cần cù, tận tâm…; Thái độ đối với bản thân là nhữngđánh giá suy xét về bản thân mình, những yêu cầu, mục đích đặt ra để thựchiện trong thế giới hàng ngày thể hiện ở lòng tự trọng, tính khiêm tốn, tínhtự hào…; Đối với tài sản thể hiện ở cẩu thả hay ko cẩu thả, hoang phíhay tiết kiệm… Hình thức là sự biểu hiện ra bên ngoài của hệ thống thái độ của cánhân trong những hành vi xã hội, thể hiện ở hành vi, cử chỉ, cách nói năng. Nội dung và hình thức của tính cách được xét theo chuẩn mực đạođức xã hội thì được phân thành tốt xấu. lúc xét tới sự đồng nhất giữa nội dung và hình thức sẽ tọ ra 4 kiểutính cách: 19

Nguồn : sưu tầm

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button