Công lý

Voltaire Là Ai – Voltaire, Saint

[Globalizethis]

Voltairelà bút hiệu củaFrançois Marie Arouet, là một nhà văn người Pháp thuộc thờiđại Khai Sáng (Enlightenment), nhà triết học danh tiếng vì trí thôngminh, nhà viết luận văn thường đứng ra bảo vệ những quyền tự do dân sự, gồm cả sựtự do tôn giáo.

khách tham quan đang xem: Voltaire là ai

Voltairecũng là nhà tranh luận châm biếm, một nhân vật nói thẳng để ủng hộ những cải cáchxã hội, ông thường sử dụng những sáng tác của mình để chỉ trích những giáo điều củaNhà Thờ Thiên Chúa Giáo và những định chế bất công, mặc dù những luật lệ kiểm duyệtkhắc nghiệt và những hình phạt nặng nề dành cho những người dám chống đối chế độđương quyền của nước Pháp.
Voltairecòn là một trong những nhà văn khai sáng, cùng với John Locke và Thomas Hobbes,đã với những tư tưởng và tác phẩm ảnh hưởng mạnh mẽ tới những nhà chính trị hoạt độngtrong hai cuộc Cách Mạng Pháp và Hoa Kỳ.
Khicòn nhỏ, Voltaire là một đứa trẻ ốm yếu, nhiều bệnh tật khiến cho cho gia đình tintưởng rằng sẽ ko sống được lâu, thế nhưng ông đã kéo dài cuộc đời một cách đầynghị lực tới năm 84 tuổi.
Voltairecó người cha đỡ đầu là giám mục của miền Chateauneuf, là một nhà thông tháinhưng bi quan. Ông này ưa thích cậu bé Voltaire thông minh nên đã hướng dẫn cậuvề thần học và đã dạy cho cậu Voltaire đọc những câu thơ châm biếm trong quyểnthơ Moisade.
Vàonăm 1704, Voltaire theo học trường trung học Louis-le-Grand giảng dạy do cáccha Dòng Tên (Jesuites), ngoài những môn học căn bản còn học thêm tiếng La Tinhvà tiếng Hy Lạp (Greek). Trong thời gian theo học tại trường này tới năm 17 tuổi,Voltaire đã đoạt được nhiều phần thưởng và một người khách tham quan của cha thấy Voltairelà một thiếu niên sớm phát triển nên đã tặng cho cậu 2,000 quan tiền để muasách.
Cũngtại trường do những cha Dòng Tên giảng dạy, Voltaire được theo học một nền giáo dụckhai phóng (liberal education) nên đã vươn lên là một nhà văn với những cảmnhận sắc bén về tự do. Do nhà trường thường hay tổ chức những buổi diễn kịch theotruyền thống phục hưng cổ điển, Voltaire đã học hỏi được những điều căn bản về kịchnghệ.
Từthuở thiếu thời, Voltaire đã tỏ ra với năng khiếu về làm thơ nên dự tính sau nàysẽ trở thành một thi sĩ, nhưng người cha, ông Francois Arouet, đã ko tin tưởngvào văn chương, cho rằng nghề này ko thể mang lại một đời sống đầy đủ, nênông đã bắt cậu con trai theo học ngành Luật từ năm 1711 tới năm 1713.
Nhờngười cha đỡ đầu là giám mục miền Chateauneuf, Voltaire được giới thiệu với cácvăn nhân, với những nhà quý tộc như Công Tước de Sully, Công Tước de Vendome, ôngHoàng de Carti… Vì mong muốn nổi tiếng trong giới văn học, Voltaire đã viết racác câu thơ châm biếm đồng thời cũng trở thành một con người hào hoa, được cácbà mệnh phụ quan tâm và ưa thích.
Vìnhận thấy Voltaire là một chàng trai sinh sống phóng đãng, ông Francois Arouetđã bắt con trai phải rời TP Paris, đi làm thư ký cho vị Đại Sứ Pháp tạiHòa Lan, trong thời gian sinh sống tại nơi đây, Voltaire đã yêu thương một thiếunữ tị nạn người Pháp theo đạo Tin Lành, tên là Catherine Olympe Dunoyer. Sự bỏnhà ra đi của cặp tình nhân này đã bị người cha cản trở và Voltaire bị bắt buộcphải trở về Paris.
Khitrở lại Paris, Voltaire đã được nhiều người biết tới vì những lời văn, lời thơ chỉtrích châm biếm. năng lực tính năng hot này cũng khiến cho cho Voltaire gặp phải nhiều rắcrối trong suốt cuộc đời. Voltaire bị tố cáo là đã viết ra những lời thơ phỉ bángmột số nhân vật trong xã hội, vì vậy lần này bị cha bắt phải đi xa, sinh sốngtrong sắp một năm và là người khách của Hầu Tước de Saint-Ange. Chính trong thờigian này, Voltaire bắt đầu viết những bài luận văn (essays) và xây dựng vở bi kịchđầu tiên (tragedy).
Voltairecó tài làm quen với rất nhiều khách tham quan mới, nhưng do năng lực nhậy cảm với những điềusai trái của xã hội, ông lại ưa thích tấn công những người mà mình ko đồng ý vềcác quan điểm, bằng những lời thơ nhạo báng.
Vàolúc trở về Paris, Voltaire được giới thiệu với một câu lạc bộ chính trị và vănhọc rất danh tiếng với tên là Cung Đình de Seaux (Court de Seaux) với nhân vậtchủ trương là bà Công Tước du Maine. với lẽ do bà này gợi ý mà Voltaire đã viếtra những lời thơ châm biếm, công kích kẻ thù của bà Công Tước là Quan Nhiếp Chínhd’Orleans (the Regent). Vì những rắc rối, vì những kẻ thù, Voltaire phải chạy khỏithành phố Paris vào tháng 5 năm 1716, thứ 1 tới miền Tulle rồi miền Sully.
Saukhi được thả ra khỏi nhà ngục Bastille, ông bắt đầu sử dụng bút hiệu Auret deVoltaire. Chữ “de” là do ông thuộc gia đình quý tộc của bà mẹ, còn với người chorằng tên “Voltaire” là do lúc còn đi học, ông được những khách tham quan bè cùng lớp gọi bằngtên riêng là “le volontaire” (người tự nguyện làm việc).
Đầutiên được trình diễn vào tháng 11 năm 1718, vở bị kịch Oedipe đã sớm thành côngvà đã được diễn xuất liên tục trong 45 ngày, và lúc Voltaire trở về Paris, ôngđược mọi người ca ngợi là một nhà thơ thiên tài, chuyên về bi kịch (a giftedtragic poet). Cũng do nổi tiếng vì viết ra những lời thơ châm biếm, công kích,Voltaire bị tố cáo là tác giả của tập thơ Philippiques, chế nhạo Công Tướcd’Orleans, nhưng vào thời gian này, Voltaire là khách mời của Công Tước deVillars, một vị anh hùng trong chiến tranh và cũng là thống chế của nước Pháp(maréchal de France). Đây là thời kỳ Voltaire thu thập những tài liệu để viết racác tác phẩm lịch sử.
Chotới cuối năm 1725, Voltaire nhận được sự bảo trợ của Công Tước Richelieu (theDuke of Richelieu) nên trái đất rất dễ chịu nhưng rồi gặp phải sự ganh ghét củaHiệp Sĩ Rohan (Chevalier du Rohan), ông này đã chế nhạo biệt hiệu “Voltaire”. Kếtquả sau cuộc cãi cọ là Hiệp Sĩ Rohan đã cho những người hầu tấn công nhà thơ. KhiVoltaire thách đố cuộc đấu gươm thì bị ông Rohan kể trên nhờ thế lực, nhốtVoltaire vào trong Ngục Bastille trong 2 tuần lễ. Sau lúc được trả tự do,Voltaire phải ra đi sống lưu vong, qua nước Anh.
Trướckia vào đầu thập niên 1720, Voltaire đã gặp ông Henry St. John, Tử Tước miền Bolingbroke(Viscount of Bolingbroke) lúc chính ông này đang sống lưu vong tại nước Pháp.Hai người trở nên đôi khách tham quan thân và vẫn thường xuyên trao đổi thư từ với nhau. Cólẽ do tình khách tham quan này mà Voltaire đã trải qua 3 năm sinh sống trên đất nước Anh vàsự việc này đã ảnh hưởng lớn lao tới cuộc đời của Voltaire.
Trongcác năm từ 1726 tới 1729, hoàn cảnh trí thức và văn hóa tại nước Anh đã làm choVoltaire vui sướng. Ông được những nhân vật thuộc hai đảng Whig và Tory đón tiếpnồng hậu. Trong số những người khách tham quan cũ và mới, Voltaire đã gặp Alexander Pope,Jonathan Swift, John Gay, Edward Young và James Thomson, và Voltaire đã ghi lạitrong nhật ký về sự kính trọng và thán phục của mình đối với tác giả JonathanSwift của cuốn truyện “những cuộc Du Lịch của Julliver” (Gulliver’s Travels), vàchắc chắn rằng tác phẩm này đã ảnh hưởng rất nhiều tới cuốn truyện Candide.Voltaire cũng tính năng hot kính trọng Alexander Pope, một nhân vật cùng với những đặctính thông thái, châm biếm, làm thơ dễ dàng và hay chỉ trích những điều sai tráicủa xã hội Anh.
Trongkhi sinh sống tại nước Anh, Voltaire đã học cách đọc và viết tiếng Anh, nghiềnngẫm những tác phẩm của Francis Bacon, William Shakespeare, John Milton, IsaacNewton và John Locke. Do sự yêu thích Shakespeare mà Voltaire bắt đầu viết vở kịch“Brutus”.
Voltairecũng thu lượm những tài liệu để viết nên tác phẩm “những Bức Thư Triết Học về NgườiAnh” (Lettres philosophiques sur les Anglais). Voltaire đã nhận thấy sựtự do và sự dung thứ (tolerance) trên quê hương này, ông đã ca ngợi nền văn hóaAnh và so sánh nước Anh với nước Pháp. Đối với tự do ngôn luận, Voltaire đã từngnói rằng: “tôi với thể ko đồng ý với lời nói của một nhân vật nào đó nhưngtôi quyết bảo vệ cho tới chết chiếc quyền mà một cá nhân được nói ra”. Nhà văn họcsử danh tiếng người Pháp là ông Gustave Lanson đã nói rằng tác phẩm “những BứcThư ” kể trên là một trái bom ném vào “chế độ cũ” (ancien régime) của nướcPháp.
Vàomùa xuân năm 1729, Voltaire tìm cách xin phép trở về nước Pháp rồi qua năm1733, ông cho xuất bản tác phẩm “những Bức Thư” và tập thơ châm biếm “Temple duGout”. Tác phẩm thứ nhất trong lúc ca ngợi người Anh về những tinh thần dân chủ,tự do, dung thứ, thì lại công kích chính quyền và nhà thờ của nước Pháp. Tậpthơ thứ hai nhạo báng những nhà văn đương thời, tính năng hot là J. J. Rousseau, vì thế,chính quyền Pháp đã ban ra một lệnh truy nã Voltaire, căn nhà của ông bị lụcsoát.
Vàolúc chính quyền Pháp ra lệnh lùng bắt Voltaire thì ông đang cư ngụ tại Cirey,trong tỉnh Lorraine, đây là một vùng đất độc lập và ông là khách mời của bàEmilie de Breteuil, nữ Hầu Tước của vùng Châtelet. Bà Hầu Tước này trẻ hơnVoltaire 12 tuổi, là một phụ nữ tính năng hot. Bà ta thông minh, đã tìm hiểu rõ những mônToán Học, Khoa Học và Triết Học, và rất hâm mộ nền triết học lạc quan củaLeibnitz. Bà ta cũng tương đương Voltaire ở sự ưa thích Newton và để trình bày hệthống vật lý Newton, bà Emilie đã dịch tác phẩm “Nguyên Lý” (The Principia)sang tiếng Pháp, đồng thời cũng thêm vào đó những lời bình luận.
Trongthời gian sinh sống tại Cirey, Voltaire đã thực hiện được khá nhiều làm việc.Ông đã soạn xong phần khảo sát về Siêu Hình (methphysics), viết xong 6 vở kịch,hoàn thành hai tập thơ trong đó với tác phẩmLe Mondain(Trần Tục),đây là sáng tác châm biếm những nhà tu Jansenits là những người theo giáo điều giốngnhư những người theo đạo Calvinism. Voltaire cũng viết xong tác phẩm “Luận Bàn vềCon Người” (Discours sur l’homme), bắt đầu viết tác phẩm “Thế Kỷ của VuaLouis14” (Siècle de Louis 14) và cuốn lịch sử thế giới “Khảo Luận vềcác Tập Quán” (Essai sur moeurs).
Saunăm 1743, Voltaire được hưởng những ân sủng của Triều Đình Pháp, phần lớn nhờ HồngY Richelieu và Bà Pompadour, đây là phụ nữ rất hâm mộ nhà soạn kịch Voltaire. Tớikhi tác phẩm mới “Tập Thơ Fontenay” (Poeme de Fontenay, 1745) của Voltairethành công và được nhiều người ca ngợi, Voltaire được lãnh một món tiền trợ cấpkhá lớn và được sắm làm nhà nghiên cứu lịch sử của hoàng gia (a royalhistoriographer), phục vụ này trước kia đã do Racine và Corneille đảm nhiệm.
Cũngvào thời gian này, Voltaire quay sang viết loại truyện triết học (philosophicaltales) trong đó tác phẩm “Candide” được coi là danh tiếng nhất. Voltaire cũngsoạn những vở kịch mới, khó với nhà soạn kịch Crébillon, sự việc này đãgây ra mối bất hòa, rồi cuối cùng vào năm 1746, Voltaire được bầu vào Hàn LâmViện Pháp Quốc (the French Academy).
Vớingòi bút táo bạo, Voltaire ko ngừng chỉ trích, lần này trong tác phẩm châmbiếm “Trajan est-il content” (Trajan với bằng lòng ko) với người bị ám chỉchính là Vua Louis 15.
Vàonăm 1748, Voltaire lại phải đi tìm nơi ẩn náu, lần này tới vùng đất của Bà CôngTước de Sceaux rồi sau đó, đi theo bà de Châtelet tại Luneville. Vào tháng 9năm 1749, bà de Châtelet đã qua đời sau lúc hạ sinh một đứa con, sự việc nàykhiến cho ông phải tìm một nơi cư ngụ khác. Voltaire ko thể trở về Paris vìsự thù nghịch với Crébillon. Trong lúc đó, Đại Đế Frederick (Frederick theGreat) của nước Phổ là người đã từng gặp Voltaire và đã trao đổi thư từ với ôngtrong thời gian qua, đã ngỏ lời mời nhà triết học Voltaire tới Potsdam. Đây lànơi mà vị Vua của nước Phổ đã thiết lập nên một Hàn Lâm Viện, và đang chờ đợiVoltaire để thêm tên ông vào danh sách những nhà thông triết (philosophes), tứclà những nhà trí thức của châu Âu.
Vìvậy, Voltaire đã tới Potsdam vào năm 1750, nhận được tiền trợ cấp rộng rãi, nhờvậy ông hoàn thành hai tác phẩm lịch sử, viết ra với tham vọng lớn lao, đó làcuốn “Thế Kỷ của Vua Louis 14” (Siècle de Louis 14). Ông cũng viết ra một truyệntriết học mới, cuốn Micromégas, đây là tác phẩm chịu ảnh hưởng của cuốn “những CuộcDu Lịch của Gulliver” (Gulliver’s Travels) của Jonathan Swift, và Voltaire tiếptục soạn cuốn lịch sử thế giới (universal history).
Nhưng,trái đất tại Potsdam của Voltaire đã ko kéo dài được lâu bởi vì chất riêng củahai nhân vật. Voltaire cảm thấy nhà vua Phổ quá kiêu căng trong lúc đó ông lạichỉ trích Hàn Lâm Viện Khoa Học của Vua Frederick. Đã với một lần Voltaire bị bắtgiữ tại Frankfort với hành lý bị lục soát. Voltaire như vậy ko thể sinh sốngtại nước Phổ, cũng như ko thể trở về Paris vì đã với thời gian hợp tác vớiVua Frederick, cuối cùng ông đã sắm nơi cự ngụ là Geneva, một địa phương với nềntự do tương đối khá hơn.
Vàolúc này, Voltaire là một người giàu với, ông đã thừa hưởng những số tiền từ ngườicha, người anh của mình, đã nhận lãnh những trợ cấp rộng rãi từ những Vua nước Phápvà nước Phổ, đã kiếm được nhiều tiền nhờ những tác phẩm văn chương, tính năng hot làcác vở kịch. Hơn nữa, ngay từ lúc nhỏ, Voltaire đã tỏ ra là người với năng khiếuvề thêm tiền để phát triển và tài sản của ông với thể coi như ngang với tài sản của ôngRothschild.
Voltaiređã mua một lâu đài tại Geneva và đặt tên là “Les Délices” (Niềm Vui), đây là“lâu đài mùa hè” của ông. Voltaire cũng mua một lâu đài khác tại Monrion, thuộcxứ Lausanne và gọi nơi này là “lâu đài mùa đông”. Cũng tại xứ Thụy Sĩ, Voltaiređã viết tác phẩm “Candide” và ông vẫn ko ngừng tấn công những tôn giáo.
Voltairecòn mua một lâu đài tại Ferney trên đất Pháp nhưng rất sắp biên giới Thụy Sĩ vàông dọn về nơi này vào năm 1760 và sinh sống với một người cháu gái là bàDenis. Tại Ferney, cảnh sống của Voltaire thực là sang trọng với 60 người phụcvụ. Ông rất hiếu khách, thường xuyên đón tiếp những nhân vật danh tiếng của khắpchâu Âu. Voltaire đã cư ngụ tại Ferney trong 20 năm trường.
Trongsuốt cuộc đời, Voltaire đã tin tưởng rằng môn văn chương phải giảng dạy “lẽ phải”cho quần chúng và ông đã sử dụng những vở kịch và những tập truyện vào mục đích chínhnày. những tác phẩm của Voltaire đã nhắc tới những vấn đề tôn giáo, chính trị, xãhội, triết học và ông luôn luôn tranh đấu cho sự dung thứ (tolerance) và sựcông bằng (justice). Tác phẩm “Khảo Sát về sự Dung Thứ” (Traité sur latolérance, 1763) đã được viết ra để biện hộ cho Jean Calais, một người đã bịhành hạ và hành hình do kết quả của cuộc tranh luận về tôn giáo (a religiouscontroversy).
Voltaiređã tranh đấu cho một số trường hợp những nạn nhân bị xét xử một cách bất công vàcác bản án đã được xét lại, vì vậy, ông đã được nhiều người ca ngợi là “tông đồcủa Tự Do” (the apostle of freedom).
Cácviệc làm chuẩn xác của Voltaire ko chỉ nhắm vào cách tiêu diệt sự bất côngvà sự bất dung thứ, mà còn với những mục đích là làm cải thiện xã hội, phổ biến kiếnthức như là một cách để đánh đổ những thành kiến và bất dung thứ dù cho những sai lầmnày ở vào những phạm vi xã hội, tôn giáo hay chủng tộc.
Tạichâu Âu, thế kỷ 18 là thời kỳ của những nhà quân chủ tuyệt đối nhưng đây cũng làthời đại của sự khai sáng (the age of the Enlightment). Đồng thời với Voltaire,trên lục địa châu Âu đã xuất hiện những nhà văn và những nhà tư tưởng danh tiếng chẳnghạn như Denis Diderot (1713 – 1784) và Jean La Rond d’Alembert (1717 – 1783) tạinước Pháp, Cesare Baccaria (1735 – 1794) tại nước Ý và Gotthold Lessing (1729 –1781) tại nước Đức, tất cả những nhân vật này đều nói lên sự cần thiết phải giảiquyết một cách hợp lý những vấn đề xã hội, tôn giáo, chính trị… và họ cũng tranhđấu cho sự tự do tư tưởng và tự do ngôn luận, và Voltairre vẫn đươc coi là “vịthống trị trí thức của châu Âu” (the intellectual potentate of Europe).
Vàomùa xuân năm 1778, vở kịch cuối cùng của Voltaire, bi kịch Irène, được giớichính quyền Pháp chấp nhận và cho trình diễn tại TP Paris và tác giảVoltaire đã với mặt trong buổi trình diễn thứ 1. Voltaire cũng được Hàn LâmViện Pháp ca ngợi là nhân vật tính năng hot nhất.

*

Vàonăm 1755, TP Lisbon thuộc nước Bồ Đào Nha (Portugal) đã bị san bằng do mộttrận động đất khủng khiếp. Hơn 30,000 người đã thiệt mạng. Biến cố này đã làmchấn động châu Âu. Vào thời gian này, nhà văn Francois Marie Arouet de Voltaiređã là một nhà triết học hàng đầu của nước Pháp và cũng là một trong những nhân vậtcó ảnh hưởng nhất của châu Âu.
Trướcthảm họa này, Voltaire đã viết ra “Bài thơ về tai họa tại Lisbon” (Poem on theDisaster of Lisbon) rồi 4 năm sau, 1759, ông đã viết ra tác phẩm châm biếmCandide sau lúc suy nghĩ về thảm họa kể trên.

Xem thêm: Hướng Dẫn Cài Office 2011 Cho Macbook, Microsoft Office For Mac 2011 Full Crack

Vàothời đại của Voltaire, rất nhiều người đã quá “lạc quan”, họ tin tưởng rằng thờikỳ này là “lúc tốt xinh nhất” và những gì đang xẩy ra cũng là “tốt xinh nhất”.Như vậy sự thiệt mạng của hơn 30,000 nạn nhân với phải là “tốt xinh nhất” ko?Cuộc chiến tranh 7 năm (the Seven Years War) kéo dài từ 1756 tới 1763, đã tànphá châu Âu, với phải là một sự “tốt xinh nhất” ko?
Voltaiređã sử dụng kỹ thuật châm biếm để tấn công sự lạc quan, những giả dối và tật xấu củatôn giáo và xã hội. Bằng cách nói quá đáng, sự châm biếm đã làm cho chủ nghĩa“lạc quan” trở thành “vô lý” đồng thời cách châm chọc này cũng tấn công sự tựmãn và sự tự cho là đúng. Thứ tâm lý này thường tin tưởng vào định mệnh, đã từchối những cải tiến, thay đổi, trong lúc nhà triết học Voltaire lại muốn cho xã hộiđược công bằng, nhân đạo hơn, và chủ nghĩa lạc quan đối với ông bị coi là kẻthù.
Vàothời đại của Voltaire, đứng sau vương quyền là Nhà Thờ Cơ Đốc La Mã (the RomanCatholic Church). Voltaire đã coi Nhà Thờ là cơ sở bảo vệ những điều mê tín, cổvõ cho sự cuồng tín (fanaticism) và sự bất dung thứ (intolerance), là lực lượngbảo thủ đứng ra cản trở những cải tiến hữu lý.
Voltairesinh ra vào thời kỳ trị vì của Vua Louis 14 (1638-1715), nhà vua này được ngườidân Pháp gọi là “Vua Mặt Trời” (the Sun King), là nhân vật đã làm cho nước Pháptrở thành cường quốc hùng mạnh nhất châu Âu và nhà vua đã cho xây dựng Cung ĐiệnVersailles huy hoàng hàng đầu vào thời kỳ đó.
Voltairesinh sống trong thời đại của Vua Louis 15, vị vua này đã ko thành công trongcông việc khiến cho cho nước Pháp ko thống trị được châu Âu. Trước vương quyền,Voltaire ko chống đối thể chế quân chủ, nhưng ông thường hay chỉ trích cáctham nhũng và lạm dụng của triều đình. Voltaire đã sử dụng phương pháp châm biếm đểtấn công sự bất dung thứ (intolerance) và sự bất công (injustice), chống lạicác thành kiến trước những vấn đề xã hội, tôn giáo và chủng tộc.
a)Candide: là một thanh niên đơn thuần, đã đi tới nhiều nơi trên thế giới và đã gặpnhiều hoàn cảnh với lúc vui tươi, với lúc hãi hùng. Trong suốt cuốn tiểu thuyết,Candide đã là một thử thách về quan niệm triết lý lạc quan (philosophicaloptimism) hay chủ trương “tất cả đều tốt xinh nhất” (all is for the best… inthis best of all worlds).
b)Nam Tước Thunder-ten-tronckh: là con người trống rỗng và tự cao, sinh sốngtrong lâu đài Westphalia. Ông này cùng với con trai, với thể bị coi là hình ảnhcủa Đại Đế Frederick của nước Phổ.
d)Tiến Sĩ Pangloss: một nhà triết học uyên bác và là thầy dạy kèm của Nam Tước,ông triết gia này chấp nhận nền triết học lạc quan.
e)Paquette: người hầu phòng trong tòa lâu đài của Nam Tước, cô này với liên hệ vớiTiến Sĩ Pangloss và truyền cho ông ta một thứ bệnh làm biến dạng con người.
f)Tín đồ của đạo Tái Rửa Tội (Anabaptist): là người tử tế, đã cứu sống Candide,Pangloss và một thủy thủ trên tầu.
g)Bà già: người làm việc cho Cunegonde, đã tư vấn Candide thoát khỏi nơi giátreo cổ tại nơi hỏa thiêu những người khác đạo (auto-da-fe), bà già này cũngđã nuôi dưỡng Candide cho tới lúc lành bệnh. Bà ta cũng là con gái của GiáoHoàng Urban X và công chúa Palestrina, nhưng trong suốt cuộc đời, bà ta đã chịunhiều khổ đau.
Candidelà một thanh niên ra đời tại Westphalia, một TP Đức nhưng lại sinh sốngtrong lâu đài của Nam Tước Thunder-ten-tronckh. Ông thầy dạy kèm cho Nam Tướclà Tiến Sĩ Pangloss đã giảng dạy cho Nam Tước học thuyết “lạc quan” (philosophicaloptimism) theo đó “tất cả sẽ trở nên tốt xinh nhất”.
Vìlà một người đơn thuần, Candide lúc đầu chấp nhận lý thuyết này nhưng anh ta đãtừng trải qua những triết lý và những nỗi khủng khiếp của chiến tranh, nhìn thấyrõ những cảnh nghèo đói, những tính xấu của loài người, những đạo đức giả của nhà thờ…,vì thế Candide bắt đầu nghi ngờ lý thuyết của Tiến Sĩ Pangloss.
Vàolúc này, Tiến Sĩ Pangloss với liên hệ tình ái mờ ám với Paquette, cô hầu phòng.Người con gái xinh của Nam Tước là cô Cunegonde đã chứng kiến cảnh dan díu kểtrên nên cũng muốn làm làm việc tương tự với Candide. lúc cả hai người bị NamTước bắt gặp đang tỏ vẻ yêu đương, Candide đã bị đuổi ra khỏi lâu đài.
Vìbị vừa đói, vừa rét, Candide bèn đi qua một TP không tính, tại nơi này anhta được hai người lính tư vấn rồi bị cần đầu quân vào lính, vì vậyCandide bị những cấp điều khiển đánh đập. Anh ta ngay tắp lự bỏ trốn nên đã đi qua những làngmạc bị chiến tranh tàn phá và đã chứng kiến những cảnh hoang phế khủng khiếp củachiến tranh. Candide tìm đường tới xứ Hòa Lan theo Thiên Chúa giáo với hy vọngcó thể tìm được sự tư vấn nhưng chỉ gặp những con người nhẫn tâm, trừ một anhchàng theo giáo phái rửa tội lại (an Anabaptist), anh này đã đối xử tử tế và rộnglượng với Candide.
Sauđó Candide gặp một người ăn mày với hình dạng biến đổi rồi về sau mới khám phára rằng người ăn mày này là Tiến Sĩ Pangloss. Pangloss đã kể lại những kinh nghiệmcũ cùng với tin tức về chiếc chết do binh lính sát hại của Nam Tước và gia đìnhông ta. Vào lúc này, mặc dù tình cảnh tồi tệ và những nỗi khủng khiếp mà ông tađã trải qua, Tiến Sĩ Pangloss vẫn còn tin tưởng vào triết lý “lạc quan”. Anhchàng theo phái rửa tội lại đã mang Tiến Sĩ Pangloss và Candide lên tầu biển,đi về Lisbon.
Khimột trận bão ập tới, anh chàng giáo phái kể trên đã bị chết sau lúc tìm cách cứuvớt một thủy thủ, tầu bị bể vỡ, chỉ còn 3 người sống sót là Candide, Tiến SĩPangloss và người thủy thủ. ko lâu sau lúc ba người này lên bờ tại Lisbon, mộttrận động đất kinh khủng đã làm rung động TP này rồi những vị lãnh đạo củanhà thờ đã tin rằng tai họa kể trên là do những người khác đạo mang lại, nên cáclãnh đạo đã quyết định về một cuộc hỏa thiêu những người ngoại đạo. Tiến SĩPangloss bị treo cổ, Candide tránh khỏi bị thiêu sống nhờ một bà già cứu giúp.Bà già này đã cho Candide ăn uống và tắm rửa sạch sẽ rồi đưa chàng ta tới gặpCunegonde, cô này đã thoát chết lúc quân lính tấn công Nam Tước một cách tàn bạo.
Cunegondehiện đang sinh sống với hai người tình với quyền lực và chính cô này đã cứuCandide khỏi bị lên dàn lửa. Sau đó, do cãi lộn, Candide đã đâm chết hai ngườiđàn ông kể trên. Quá sợ hãi, Candide, Cunegonde và bà già cùng nhau trốn ra mộtthành phố cảng, tại nơi này, một con tầu quân đội đang chất hàng để đi tới xứParaguay. Nhờ năng lực về quân sự, Candide được một ông tướng quan tâm rồi ông tướngnày đã phong cho Candide làm đại úy điều khiển bộ binh.
Vềsau, Candide đã cùng Cunegonde và bà già đáp tầu biển đi xuống miền Nam Mỹ(South America), trong chuyến đi xa này, bà già đã kể lại những câu chuyện khủngkhiếp mà bà ta đã gặp phải, bà ta đã phải chịu đựng rất nhiều đau khổ, nhiềuhơn tất cả những người khác. Tới lúc này, Candide bắt đầu nghi ngờ lý thuyết củaTiến Sĩ Pangloss về chủ nghĩa “lạc quan”.
Tạithành phố Buenos Aires, ba người đã gặp Don Fernando là người quan tâm tớiCunegonde và muốn cưới cô này làm vợ. Candide rất đau buồn nhưng phải tìm cáchlẩn trốn bởi vì những nhân viên cảnh sát đang theo dõi dấu vết của Candide. Do đượcanh hầu tên là Cacambo tư vấn, Candide đã trốn thoát và đã gặp Cha Linh Mục,điều khiển trưởng của một đạo quân Dòng Tên (a Jesuit army) tại Paraguay. Vi chỉhuy trưởng này hóa ra lại là anh trai của Cunegonde, anh ta đã bị bỏ cho chếtkhi cha và mẹ của anh ta đã bị giết tại Westphalia. Lúc này, Candide mới cảm thấymình yêu thương Cunegonde nên kỳ vọng rằng một ngày kia, sẽ cưới được nàng làmvợ. Người con trai của Nam Tước lúc biết được ý tưởng này của Candide, đã nổigiận rồi một trận đấu gươm xẩy ra và Candide đã giết chết anh ta.
Mộtlần nữa, Candide và Cacambo phải bỏ chạy rồi ko lâu sau đó, họ gặp nhóm dânOreillons, nhưng người này suýt nữa giết chết Candide, nhưng rồi đã đối xử tử tếvới Candide. Sau lúc rời bỏ xứ sở của những người kể trên, Candide và Cacambo tớimiền đất Eldorado, đây là nơi chứa đầy vàng và ngọc mà người dân địa phương lạikhông cần tới, bởi vì những nhu cầu của người dân đã được chính quyền địa phươngcung cấp. Eldorado cũng là nơi ko với tòa án, ko với nhà tù bởi vì mọi ngườidân đã đối xử với nhau công bằng và ko bào giờ phạm luật. những công dân của xứEldorado tin tưởng vào Thượng Đế nhưng họ ko bào giờ cầu nguyện, họ chỉ cảmtạ Thưởng Đế bời vì họ với đầy đủ những thứ cần tới.
Domuốn tìm kiếm Cunegonde, Candide và Cacambo đã rời khỏi xứ Eldorado cùng với mộttoán lừa màu đỏ chất đầy vàng, ngọc và những đồ tiếp tế khác. lúc tới miềnSurinam, họ tách ra đi theo hai hướng khác nhau: Cacambo một cách bí mật hướngvề Buenos Aires để tìm cách mua chuộc, giải cứu Cunegonde, còn Candide đi tớiVenice là nơi anh ta ko bị cảnh sát theo dõi. Candide bị hại do thuyền trưởngtên là Mynheer Vanderdendur và do một viên quan tòa mà Candide đã nhờ bão chữa.Thất vọng, Candide đã quảng cáo, muốn tìm một người bất hạnh nhất và người đượcchọn là một học giả lớn tuổi, tên là Martin. Sau đó, Candide và Martin cùng đitới Venice.
Tạithành phố Paris, Candide đã mắc bệnh và đã được nhiều người chăm sóc, tất cả nhữngngười này đều chỉ muốn lấy tài sản của Candide. Sau đó Candide và Martin đi tớinước Anh và đã chứng kiến nhiều cảnh bạo hành, rồi cuối cùng họ tới được thànhphố Venice.
Quacác cuộc thảo luận khác nhau, qua nhiều lần gặp mặt nhiều người khác nhau,Candide bắt đầu ko còn tin tưởng vào triết lý “lạc quan” nữa. ko lâu sauđó, Candide gặp lại Cacambo, hiện tại là một tên nô lệ, anh này báo tin choCandide biết rằng Cunegonde đang ở Constantinople và làm việc như một người hầu.Candide đã trả tiền chuộc cho Cacambo để rồi cùng đi Constantinople. Tại nơinày, họ đã gặp lại Tiến Sĩ Pangloss và người con trai của Nam Tước, cả hai ngườinày đã tưởng bị chết, nhưng còn sống là nhờ sợi dây treo cổ Tiến Sĩ Pangloss đãtuột nút thắt, còn người con trai của Nam Tước đã lành khỏi vết thương bịCandide đâm.
Tấtcả những người này cùng đi tìm kiếm Cunegonde, lúc này cô nàng đang sinh sống vớibà già và ko còn xinh đẽ như trước kia, và Candide đã chuộc lại tự do cho haingười mới này. Nhưng lúc người con trai của Nam Tước cản trở cuộc hôn nhân củaCandide với Cunegonde, mặc dù Candide ko còn mong muốn thứ đám cưới này, ngườicon trai của Nam Tước đã bị đám đông giết chết.
Vàolúc cuối, Candide đã kết hôn với Cunegonde và mua một trang trại nhỏ bằng sốtài sản Eldorado còn sót lại Tất cả nhóm người này: Candide, Cunegonde,Cacambo, Martin, Pangloss và bà già, đều sống với nhau tại trang trại kể trên rồisau đó còn với Paquette và người khách tham quan đồng hành của cô ta là sư huynh Giroflee. Họthảo luận về triết lý của cuộc đời cho tới lúc gặp một anh Thổ Nhĩ Kỳ (a Turk)đang ngồi nghỉ xả tương đối dưới một gốc cây. Anh này cho biết rằng anh ta chỉ với mộtnông trại nhỏ để sinh sống với những con. Nông trại là nhu cầu của anh ta, đãtránh cho anh ta khỏi cảnh nhàm chán và những ước muốn xấu xa.
Nhờlối giải thích kể trên, Candide cũng cho rằng nhóm người của anh sẽ tìm ra hạnhphúc và họ bắt đầu canh tác nông trại nhỏ bé của họ.
Candidelà tác phẩm chỉ trích một cách khôn ngoan và châm biếm những hệ thống triết họctrừu tượng, tính năng hot là chủ thuyết lạc quan (optimism) của Gottfried W.Leibnitz (1646 – 1716). Leibnitz là nhà triết học danh tiếng người Đức, được mộtsố nhà tư tưởng trong thế kỷ 18 kính trọng. Voltaire ko phản bác tất cả cácý tưởng của Leibnitz mà chỉ tấn công chủ thuyết lạc quan, qua hình ảnh của TiếnSĩ Pangloss.
Voltairebác bỏ quan niệm cho rằng thế giới này với những biến cố do định mệnh (fatalism)theo đó mỗi nguyên nhân đều sinh ra hậu quả thích hợp và những nguyên nhân này đềuphản ảnh ý muốn của Thượng Đế. Tiến Sĩ Pangloss vì quá lạc quan nên đã chấp nhậndễ dàng mọi sự việc xẩy ra, trái với ý nghĩ của Voltaire là con người phải cótinh thần phấn đấu và cải tiến để sửa sai những tật xấu. Voltaire cũng bác bỏý niệm cho rằng Thượng Đế đã can thiệp vào mọi làm việc hàng ngày trên thếgian này, bởi vì những ý tưởng của ông được căn cứ trên lý trí (reason).
Vàocuối tác phẩm, Candide đã bày tỏ quan điểm của Voltaire, đó là Thượng Đế đã bỏlại thế gian này sau lúc đã tạo dựng nên và con người phải vun trồng khu vườn củachính mình.
Vàothế kỷ thứ nhất, một nhà tiên tri người Ba Tư tên là Mani (Persian prophet, 216– 276?) đã tin tưởng vào hai nguyên lý: tốt và xấu (good and evil) và 2 nguyênlý này luôn xung đột với nhau: đây là chủ thuyết Manicheanism.
Trongtác phẩm Candide, Martin là con người bi quan (a pessimist), đã đi theo chủthuyết kể trên nên tin tưởng rằng Thượng Đế đã bỏ thế gian này cho bọn ác quỷ(Satan và bóng tối) và điều ác là một hiện thực, ko phải là một ảo giác.
Voltairelà người ko hề tin tưởng vào một chủ thuyết nào, ông ko ưa những lý thuyếttrừu tượng và những người theo lý thuyết, dù cho đó là chủ thuyết lạc quan củaLeibnitz hay bi quan của Mani. Voltaire chỉ tin tưởng vào thực nghiệm(empiricism) theo đó mọi kiến thức hay những điều hiểu rõ biết phải do từ những kinhnghiệm của giác quan (sensory experiences). Về điều này, Voltaire chịu ảnh hưởngcủa nhà triết học người Anh John Locke (1632 – 1704). Theo Voltaire, một ý tưởnghay một giả thuyết chỉ với giá trị lúc liên quan tới thế giới vật lý để cho conngười với thể nhận biết và kiểm tra qua những giác quan. Cũng vì thế mà Cambo rồisau này là Candide, đã trắc nghiệm mọi quan niệm và lời nói bằng những kinh nghiệmcủa họ, dù cho những sự việc kể trên thuộc về lạc quan hay bi quan.
Voltairetấn công mọi hình thức của xã hội: bản chất của con người đã bị thay đổi bởicác định chế dân sự (civil institutions) chẳng hạn như Candide đã tìm thấy ởthành phố Paris những kẻ nói dối và những tên vô loại. Giới tu sĩ từ Giáo Hoàng tớilinh mục, thì hư hỏng, cuồng tín, tham lam, đàn áp, ham quyền lực. Giới y sĩ làloại lang băm, hành nghề gian lận, giới tòa án và cảnh sát với lòng liêm chínhđáng bị nghi ngờ, sự phân biệt giai cấp trong xã hội được căn cứ vào cách giàusang dỏm hơn là tài năng, còn sự thịnh vượng của châu Âu đặt căn bản trên sựnghèo khó của người dân và trên sự kinh doanh nô lệ. Sau cùng, vinh quang bềngoài của chiến tranh thì tương phản với sự tàn phá cả trên mặt đất lẫn trên mặtbiển.
Voltaiređã nhắc tới một nơi toàn hảo (a perfect place), đó là miếng vườn cùng đồng củaCandide (Candide’s garden community) tại nơi này, mọi người cần phải làm việcchăm chỉ (hard work), thật thà, với tinh thần cởi mở, cầu tiến và phấn đấu chung.Trong cùng đồng lý tưởng này, mỗi người tham gia tùy theo tài năng và sức mạnhcủa từng cá nhân, và mọi người phải làm việc thật chăm chỉ để cải thiện những điềukiện sinh hoạt bởi vì đây là nền văn hóa hướng vào làm việc (work-orientedculture).
–Lettres philosophiques sur les Anglais(những Bức Thư Triết Họcvề người Anh, 1733), sửa chữa lại vào năm 1778 thành Letters on the English.
–Epitre àl’Auteur du Livre des Trois Imposteurs (Bức thư chotác giả của cuốn sách của ba kẻ lường gạt, 1770).
Voltaiređã viết ra được từ 50 tới 60 vở kịch, kể cả một số chưa hoàn thành. Trong sốnày, đáng kể là những vở kịch:Oedipe(1718), Eriphile(1732),Irene, Socrates, Mahomet, Mérope, Nanine, Zaire(1732).
–Annals of the Empire – Charlemagne, A.D. 742 – Henry VII1313,Vol. I (Sử Biên Niên của Đế Quốc – từ Hoàng Đế Charlemagne tới Vua Henry 7, TậpI, 1754).
–Annales of the Empire– Louis of Bavaria, 1315 to FerdinandII, 1631, Vol. II (Sử Biên Niên của Đế Quốc – từ Vua Louis xứ Bavaria tới VuaFerdinand II, Tập II, 1754).
–History of the Russian Empire Under Peter the Great(Vol. I,1759; Vol. II, 1763) (Lịch sử của Đế Quôc Nga dưới thời Đại Đế Peter, Tập I,1759, Tập II, 1763)./.
Người đăng:Minh Anh on Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015vào lúc15:40

*

Adam SmithAmartya SenAristotleAyn RandBenthamBurkeFareed ZakariaFoucaultFukuyamaHabermasHayekHobbesHuntingtonIsaiah BerlinJoseph E. StiglitzKantKarl PopperLarry DiamondLockeMachiavilleMarxMillMilton FriedmanMinxin PeiMontesquieuNozickPlatoRawlsRousseauThomas PikettyTocquevilleVoltaire
Bùi Văn Nam SơnCao Huy ThuầnChu HảoĐinh Tuấn MinhĐỗ Kim ThêmLê Tuấn HuyMai Thái LĩnhNguyễn Kiến GiangNguyễn Quang ANguyễn TrườngNguyễn ƯớcPhạm Nguyên TrườngPhạm Phú KhảiPhạm Văn TuấnPhan Châu TrinhTrần Hữu Dũng
Chính trịGocsan.blogicevnNghiên cứu quốc tếNguồn tài liệuSách lịch sửSlide tài liệuTalawasTriết họcTriết học chính trịTủ sách SOS2Tủ sách Tinh hoaVideoXã hội học chính trị

Nguồn : Sưu tầm

Danh mục: Công lý
Nguồn: https://globalizethis.org

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button