[Soạn Bài]: Tổng kết về từ vựng (tiếp theo) Văn 9 – Bài 11

Create by : https://globalizethis.org

I. Từ tượng thanh, từ tượng hình

Câu 1: Ôn lại khái niệm từ tượng hình, từ tượng thanh (SGK Ngữ văn 9, tập 1 – trang 146)

Lời giải tham khảo:

– Khái niệm từ tượng thanh: từ tượng thanh là những từ mô phỏng âm thanh của tự nhiên, của con người.

– Khái niệm từ tượng hình: từ tượng hình là những từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật.

Câu 2: Tìm những tên loài vật là từ tượng thanh (SGK Ngữ văn 9, tập 1 – trang 146)

Lời giải tham khảo:

Những loài vật có tên gọi là từ tượng thanh: mèo, tắc kè, bò, (chim) đa đa, chim cúc cu…

Câu 3: Xác định từ tượng thanh và giá trị sử dụng của chúng trong đoạn trích. (SGK Ngữ văn 9, tập 1 – trang 146)

Lời giải tham khảo:

– Những từ tượng hình có trong đoạn trích là: lốm đốm, lê thê, loáng thoáng, lồ tồ.

– Các từ tượng hình trên có tác dụng trong việc mô tả đám mây một cách sống động và cụ thể hơn.

II. Các biện pháp tu từ từ vựng

Câu 1: Ôn lại các khái niệm: so sánh, ẩn dụ, nhân hóa, hoán dụ, nói quá, nói giảm nói tránh, điệp ngữ, chơi chữ. (SGK Ngữ văn 9, tập 1 – trang 147)

Lời giải tham khảo:

– Khái niệm so sánh: so sánh là đối chiếu giữa sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng.

Xem thêm :  5W1H – công thức vàng cho chiến lược kinh doanh hiệu quả

– Khái niệm nhân hoá: nhân hoá là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật,… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật,… trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người.

– Khái niệm ẩn dụ: ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng với nó.

– Khái niệm hoán dụ: hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của một sự vật, hiện tượng, khái niệm khác có quan hệ gần gũi với nó.

– Khái niệm nói quá: nói quá là phóng đại mức độ, quy mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

– Khái niệm nói giảm nói tránh: nói giảm nói tránh là dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

– Khái niệm điệp ngữ: điệp ngữ là lặp lại từ ngữ (hoặc cả một câu) để làm nổi bật ý, gây cảm xúc mạnh.

– Khái niệm chơi chữ: chơi chữ là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,… làm câu văn hấp dẫn và thú vị.

Câu 2: Các biện pháp tu từ (SGK Ngữ văn 9, tập 1 – trang 147)

Lời giải tham khảo:

a) Tác giả Nguyễn Du đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ. Qua từ hoa, cành để ẩn dụ về Thúy Kiều và cuộc đời của nàng. Từ cây, lá được ẩn dụ dùng để chỉ gia đình Thúy Kiều và cuộc sống của gia đình nàng. Ý của hai câu thơ trên nhằm nói về việc Thúy Kiều bán mình để cứu gia đình.

b) Nhà thơ Nguyễn Du đã so sánh tiếng đàn của nàng Thúy Kiều với tiếng hạc, tiếng suối, tiếng gió thoảng, tiếng trời đổ mưa.

c) Tác giả Nguyễn Du đã sử dụng biện pháp nói quá về vẻ đẹp của Kiều. Vẻ đẹp của nàng Thúy Kiều đến mức hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh. Thúy Kiều không chỉ có vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành mà còn là người có tài: sắc đành hoạ một, tài đành họa hai. Biện pháp nói quá khi nói về Thúy Kiều, tác giả đã khắc họa lên một nhân vật tài sắc vẹn toàn.

Xem thêm :  Hướng dẫn, thủ thuật về

d) Nhà thơ Nguyễn Du sử dụng biện pháp nói quá. Hoạn Thư bắt nàng Kiều chép kinh ở gác Quan Âm gần với phòng đọc sách của chàng Thúc Sinh. Tuy rằng ở gần nhau trong gang tấc nhưng hai người lại trở nên xa cách gấp mười quan san. Bằng cách sử dụng biện pháp nói quá, nhà thơ Nguyễn Du đã khắc họa đậm nét sự xa cách cũng như cảnh ngộ thân phận giữa hai người Thúy Kiều và Thúc Sinh.

Biện pháp nghệ thuật chơi chữ được sử dụng trong câu thơ là những từ gần âm với nhau: chữ tài – chữ tai.

Câu 3: Nghệ thuật được sử dụng trong các câu thơ. (SGK Ngữ văn 9, tập 1 – trang 147)

Lời giải tham khảo:

a) Tác giả dân gian sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp từ (còn) và sử dụng từ đa nghĩa (say sưa). Chàng trai trong câu ca dao vì uống quá nhiều rượu mà say, nhưng cũng có thể hiểu thêm nghĩa khác là chàng trai đang say đắm vì tình. Nhờ cách nói đó mà sự bày tỏ tình cảm của chàng trai trở nên mạnh mẽ hơn nhưng không kém phần kín đáo và tế nhị.

b) Nhà thơ Nguyễn Trãi đã sử dụng biện pháp nghệ thuật nói quá trong 2 câu: “Gươm mài… đá núi cũng mòn; vo: uổng… nước sông phải cạn”. Sử dụng biện pháp nói quá trên đã nhấn mạnh sức mạnh không ngừng của nghĩa quân; đó cũng là ý chí nghị lực, quyết tâm của nghĩa quân không gì có thể ngăn cản nổi trong cuộc đấu tranh chống quân xâm lược…

c) Trong tác phẩm Cảnh khuya, tác giả Hồ Chí Minh đã sử dựng biện pháp nghệ thuật so sánh và điệp từ ngữ để miêu tả cũng như bày tỏ tâm trạng của mình:

So sánh:                

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Cảnh khuya như vẽ”

Điệp từ ngữ: “… lồng., lồng…”, “… chưa ngủ… chưa ngủ”.

– Tác phẩm “Cảnh khuya” được bắt đầu bằng âm thanh của tiếng suối vang rộng trong đêm khuya nhưng nhà thơ lại cảm nhận như là tiếng hát. Cách ví von đó cực kỳ phù hợp với sự liên tưởng giữa cảnh vật và con người nơi chiến khu Việt Bắc hồi bấy giờ. Cũng vì vậy mà câu thơ đã đưa người đọc  đi vào một cõi mơ trong liên tưởng về âm thanh tiếng suối hay là giọng hát xa con người trong một đêm trăng huyền ảo, lung linh…

Xem thêm :  [SOẠN BÀI] KIỂM TRA TỔNG HỢP HỌC KÌ 1

– Sau âm thanh như tiếng suối vang đó là hình ảnh của cảnh khuya hiện lên như những nét vẽ. Hình ảnh “Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa” đã đưa người đọc hình dung ra cảnh khuya như vẽ bằng ngôn từ.  

– Cùng với vẻ đẹp của cảnh khuya đêm trăng trong rừng khuya Việt Bắc, tâm trạng của thi nhân cũng được mở ra với người đọc… Sự lặp lại nối tiếp  hai từ “chưa ngủ” trong hai câu thơ cho ta suy nghĩ rằng tác giả vì vẻ đẹp cảnh khuya mà chưa ngủ hay chưa ngủ vì đang “lo nỗi nước nhà”, chính  hai tâm trạng trong một con người vĩ đại: say mê thiên nhiên và việc nước, đó cũng là chất lãng mạn và hiện thực của một nhà cách mạng làm thơ…

d) Tác giả sử dụng biện pháp nghệ thuật nhân hóa trong hai câu thơ.

Hình ảnh của ánh trăng, vầng trăng đã trở thành một người bạn tri ân, tri kỷ với nhà thơ: Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ. Biện pháp nhân hóa trong câu thơ đã vẽ lên hình ảnh bức tranh thiên nhiên đầy sống động; ánh trăng đã trở thành một nhân vật luôn gắn bó và gần gũi với con người…

e) Nhà thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật ẩn dụ trong câu thơ thứ hai. Mặt trời ý chỉ em bé đang trên lưng mẹ. Hình ảnh ẩn dụ trong câu thơ thể hiện sự gắn bó giữa người mẹ với đứa con của mình, đó là nguồn sống, sự tin yêu, là sự tin tưởng của người mẹ đối với ngày mai tươi sáng.

Khi copy nhớ ghi nguồn : https://globalizethis.org nhé . Chúc bạn may mắn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses cookies to offer you a better browsing experience. By browsing this website, you agree to our use of cookies.