Pháp luật

những dấu hiệu của tội phạm? Cấu thành tội phạm

Cấu thành tội phạm là gì? những yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật

Tội phạm là những người vi phạm quy định pháp luật của luật hình sự gây nguy hiểm cho xã hội. Để xác định một hành vi sở hữu phải là tội phạm hay ko thì cần phải xét xem hành vi đó sở hữu đủ những dấu hiệu để cấu thành tội phạm hay ko? Sau đây doanh nghiệp Đà Nẵng Discovery xin phân tích về những dấu hiệu của một tội phạm. Tội phạm sở hữu 4 dấu hiệu phần lớn:

Tính sở hữu lỗi

Lỗi là thái độ tâm lý chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra, thể hiện dưới dạng cố ý và vô ý. Nếu ko sở hữu lỗi thì ko bị coi là tội phạm.

Lỗi cố ý:
Cố ý trực tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra.

Cố ý gián tiếp: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó sở hữu thể xẩy ra, tuy ko mong muốn nhưng vẫn sở hữu ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Lỗi vô ý:
Lỗi vô ý do quá tự tin: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình sở hữu thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ ko xẩy ra hoặc sở hữu thể ngăn ngừa được.

Lỗi vô ý do cẩu thả: Người phạm tội ko thấy trước hành vi của mình sở hữu thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và sở hữu thể thấy trước hậu quả đó.

Tính nguy hiểm cho xã hội

Tại Khoản một Điều 8 Bộ luật hình sự 2017 quy định

Điều 8. Khái niệm tội phạm
một. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người sở hữu năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, tiện lợi hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, tiện lợi hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
2. Những hành vi tuy sở hữu dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội ko đáng kể thì ko phải là tội phạm và được xử lý bằng những biện pháp khác.

Như vậy tính nguy hiểm là dấu hiệu thứ 1 để xác định được hành vi đó sở hữu phải là tội phạm hay ko, dấu hiệu về tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, rất cần thiết, quyết định những dấu hiệu khác.

Tính trái pháp luật hình sự

Điều 2 Bộ luật hình sự 2017 quy định về trách nhiệm hình sự như sau:

Điều 2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự
một. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải nhận trách nhiệm hình sự.
2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải nhận trách nhiệm hình sự.

Như vậy bất cứ hành vi nào ko được quy định là một tội trong bộ luật Hình sự thì việc thực hiện hành vi đó đều ko phải là tội phạm.

Tính phải chịu hình phạt

Chỉ những hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt, hình phạt được coi là cơ chế răn đe, giáo dục đối với tội phạm. Nếu tính nguy hiểm của hành vi phạm tội tỷ lệ thuận với mức độ khung hình phạt. Vì thế, một hành vi được coi là tội phạm lúc nó thỏa mãn đủ bốn dấu hiệu nêu trên.

Nguồn : Tổng hợp

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button