Pháp luật

Lỗi trong cấu thành tội phạm

Dấu hiệu lỗi trong cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật. Khái niệm về lỗi trong cấu thành tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm là dấu hiệu rất cần thiết trong cấu thành tội phạm. Mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện thông qua ba yếu tố: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội. Trong đó, lỗi là dấu hiệu rất cần thiết nhất, là nội dung cơ bản thể hiện mặt chủ quan của cấu thành tội phạm, ko xác định được lỗi thì ko thể cấu thành tội phạm. Để phân biệt được dấu hiệu lỗi trong cấu thành tội phạm, Globalthis xin đưa ra những phân tích sau đây:

Khái niệm về lỗi trong luật hình sự:

Lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra thể hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý

Một hành vi bị xem là tính với lỗi lúc với đủ hai điều kiện:
– Hành vi trái pháp luật hình sự.
– Hành vi đó là kết quả của sự tự lựa mua và quyết định của người thực hiện hành vi lúc với năng lực và điều kiện để lựa mua và quyết định xử sự khác ko trái pháp luật hình sự.

Để xác định được người thực hiện hành vi nguy hiểm, gây thiệt hại cho xã hội  với lỗi trong việc thực hiện hành vi đó hay ko, ta cần xác đinh tính với lỗi của tội phạm. lúc thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội lúc hội đủ hai điều kiện:
– ko mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất năng lực nhận thức hoặc năng lực điều khiển hành vi.
– Đạt độ tuổi theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự hiện hành.

những hình thức lỗi:

Nội dung cơ bản cùa lỗi được hợp thành bởi hai yếu tố cơ bản là lý trí và ý chí. Sự kết hợp khác nhau giữa lý trí và ý chí tạo nên những hình thức lỗi khác nhau:

Lỗi cố ý trực tiếp
Về lý trí: Người thực hiện hành vi nhận thức rõ tính chất nguy hiểm trong hành vi của mình, thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội với thể hoặc tất yếu xảy ra.
Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra
Ví dụ: A và B với mâu thuẫn từ lâu, A sử dụng dao đâm nhiều nhát vào ngực B với mong muốn giết B để trả thù.

Lỗi cố ý gián tiếp
Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước được hành vi đó với thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội.
Về ý chí: Người phạm tội ko mong muốn cho hậu quả xảy ra, nhưng với ý thức bỏ mặc cho hậu quả nguy hiểm xảy ra do chính hành vi của mình.
Ví dụ: ô tô của A bị hỏng phanh tuy nhiên A vẫn điều khiển ô tô của mình tham gia giao thông và đã gây tai nạn làm chị B tử vong.

Lỗi vô ý vì quá tự tin
Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ thấy hành vi của mình với thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội.
Về ý chí: Người phạm tội ko mong muốn hậu quả xảy ra, “nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ ko xảy ra hoặc với thể ngăn ngừa được”. Người phạm tội thấy trước được hành vi của mình với thể gây ra nguy hại cho xã hội nhưng tin rằng với năng lực, triết lý, với những biện pháp mình áp dụng, cách thức, phương tiện thực hiện, những điều kiện chủ quan, khách quan khác mà hậu quả tác hại sẽ ko xảy ra hoặc với thể ngăn ngừa được…nhưng hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra.
Ví dụ: trong lúc đi chơi A bơi giỏi và biết B ko biết bơi nhưng A đã cố tình đẩy B xuống nước để chêu đùa và nghĩ rằng mình với thể cứu B. Tuy nhiên do mải đùa cợt A đã ko để ý dẫn tới việc B bị chết đuối.

Lỗi vô ý do cẩu thả
Về lý trí: người phạm tội ko thấy trước hành vi của mình với thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội mặc dù người đó với trách nhiệm phải thấy trước hậu quả hoặc với thể thấy trước hậu quả xảy ra.
Về ý chí: Vì ko thấy trước được hậu quả xảy ra nên người phạm tội ko mong muốn hậu quả xảy ra
Ví dụ: A do tức giận đã ném viên đá ra đường, chính lúc đó B chạy xe máy ngang qua và bị viên đá văng trúng đầu dẫn tới tai nạn tử vong.

Ở hình thức lỗi này, người phạm tội ko nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra. với thể với hai trường hợp người phạm tội ko thấy trước được hậu quả của hành vi:
Trường hợp thứ nhất, người phạm tội ko nhận thức được năng lực gây ra hậu quả từ hành vi của mình và cũng ko nhận thức được hậu quả xảy ra. Ví dụ: bảo vệ ngủ quên dẫn tới tài sản của siêu thị bị mất trộm.
Trường hợp thứ hai, người phạm tội với thể nhận thức năng lực gây ra hậu quả từ hành vi của mình nhưng ko nhận thức được hậu quả xảy ra. Ví dụ: Một người băng ngang đường một cách vô thức (ko nhìn trước nhìn sau) làm cho hai xe chạy ngược chiều nhau vì tránh người này mà xảy ra tai nạn làm hai người lái xe tử vong.

Nguồn : Tổng hợp

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button