Pháp luật

Giải quyết lúc người thi hành án ko mang tài sản

Người thì hành án ko mang tài sản phải làm gì? Cách thức giải quyết lúc người phải thi hành án ko mang tài sản

Trong những quan hệ hình sự, dân sự, việc một bên phải mang nghĩa vụ bồi thường cho bên kia hoặc nộp phạt cho Nhà nước được giải quyết trong quá trình thi hành án. Nhiều người cho rằng một người ko mang tài sản thì lúc thi hành án sẽ ko phải mất gì cả, điều này liệu mang đúng hay ko?

Thứ nhất, ít nhất 6 tháng một lần, Chấp hành viên sẽ xác minh điều kiện thi hành án.

Khoản 2 Điều 44 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung 2014 (LTHA) quy định về việc Xác minh điều kiện thi hành án:

Điều 44. Xác minh điều kiện thi hành án
2. Trường hợp người phải thi hành án chưa mang điều kiện thi hành án thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa mang điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc ko xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần. Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa mang điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành lúc mang thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Điều này mang nghĩa, trường hợp xác minh thấy người phải thi hành án hiện tại chưa mang điều kiện thi hành án, Chấp hành viên sẽ tiếp tục xác minh ít nhất 6 tháng một lần. Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa mang điều kiện thi hành án, việc xác minh lại được tiến hành lúc chấp hành viên mang thông tin mới về điều kiện thi hành án.

Thứ hai, thời hiệu yêu cầu thi hành án dân sự là 5 năm

Khoản một Điều 30 LTHA quy định về Thời hiệu yêu cầu thi hành án:

Điều 30. Thời hiệu yêu cầu thi hành án
một. Trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày bản án, quyết định mang hiệu lực pháp luật, người được thi hành án, người phải thi hành án mang quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự mang thẩm quyền ra quyết định thi hành án.
Trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa vụ được ấn định trong bản án, quyết định thì thời hạn 05 năm được tính từ ngày nghĩa vụ tới hạn.
Đối với bản án, quyết định thi hành theo định kỳ thì thời hạn 05 năm được áp dụng cho từng định kỳ, kể từ ngày nghĩa vụ tới hạn.

Điều này mang nghĩa, thời gian tối thiểu để yêu cầu thi hành án là 5 năm. Nếu bản án mang quy định thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì hết thời hạn đó, người được thi hành án mang thêm 5 năm để yêu cầu thi hành án.

Thứ 3, cần lưu ý tới những biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án.

Chấp hành viên mang quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án; thu giữ tài sản thi hành án (Điều 20 LTHA). Theo đó những biện pháp bao gồm:

Biện pháp đảm bảo thi hành án: (Khoản 3 Điều 66 luật thi hành án)
– Phong tỏa tài khoản
– Tạm giữ tài sản, giấy tờ
– Tạm ngừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản

Biện pháp cưỡng chế thi hành án: (Điều 71 luật thi hành án)
– Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ mang giá của người phải thi hành án
– Trừ vào thu nhập của người phải thi hành án
– Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ
– Khai thác tài sản của người phải thi hành án
– Buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ
– Buộc người phải thi hành án thực hiện hoặc ko được thực hiện làm việc nhất định.

Những biện pháp trên nhằm đảm bảo người phải thi hành án ko mang hành vi chống đối nghĩa vụ của mình, nội dung từng biện pháp được quy định tại Chương IV luật thi hành án dân sự.

Thẩm quyền, phạm vi xác minh điều kiện thi hành án của Thừa phát lại được quy định tại điều 43 nghị định 08/2020/NĐ-CP

Điều 43. Thẩm quyền, phạm vi xác minh điều kiện thi hành án
một. Thừa phát lại mang quyền xác minh điều kiện thi hành án mà vụ việc đó thuộc thẩm quyền thi hành của những cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở.
2. lúc thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án, Thừa phát lại mang quyền xác minh ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi Văn phòng Thừa phát lại đặt trụ sở.

Theo điều 44a Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014:

Điều 44a. Xác định việc chưa mang điều kiện thi hành án
một. Căn cứ kết quả xác minh điều kiện thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định về việc chưa mang điều kiện thi hành án lúc thuộc một trong những trường hợp sau đây:
a) Người phải thi hành án ko mang thu nhập hoặc mang thu nhập chỉ bảo đảm thế giới tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ mang trách nhiệm nuôi dưỡng và ko mang tài sản để thi hành án hoặc mang tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán kinh phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật ko được kê biên, xử lý để thi hành án;
b) Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả ko còn hoặc hư hỏng tới mức ko thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ ko thể thu hồi và cũng ko thể cấp lại được mà đương sự ko mang thỏa thuận khác;
c) Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng.
2. Thông tin về tên, địa chỉ, nghĩa vụ phải thi hành của người phải thi hành án chưa mang điều kiện thi hành được đăng tải trên trang thông tin điện tử về thi hành án dân sự và gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xác minh để niêm yết. lúc người phải thi hành án mang điều kiện thi hành thì cơ quan thi hành án phải tổ chức thi hành.

Như vậy, người ko mang tài sản ko đương nhiên hết nghĩa vụ đối với phần nghĩa vụ mình nhận trách nhiệm. Nếu mang căn cứ xác định người này mang điều kiện thi hành, Chấp hành viên sẽ xác minh lại để Thủ trưởng cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án.

Nguồn : Tổng hợp

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button