Giải Bài 48: SỰ CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG – Chương IX

Create by : https://globalizethis.org

MỞ ĐẦU

Câu hỏi 1: Khi trời lạnh, ta thường xoa hai bàn tay vào nhau và thấy tay nóng lên. Tại sao? (trang 168 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

Lời giải tham khảo:

Khi trời lạnh, ta thường xoa hai bàn tay vào nhau và thấy tay nóng lên vì khi xoa hai tay vào nhau có sự chuyển hóa năng lượng từ động năng sang nhiệt năng, nhiệt năng giúp tay ta ấm dần lên.

Xem thêm :  Bài 9: Căn bậc ba Sgk Toán 9 tập 1| Lời giải hay chi tiết | Soạn Giải Toán 9

Câu hỏi 2: Khi vỗ hai tay vào nhau, ta nghe được tiếng vỗ tay. Trong hoạt động này đã có sự chuyển hóa năng lượng nào? (trang 168 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

Lời giải tham khảo:

Khi vỗ hai tay vào nhau, ta nghe được tiếng vỗ tay, trong hoạt động này đã có sự chuyển hóa năng lượng từ động năng sang năng lượng âm.

I. CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG

Câu hỏi 1: Gọi tên các dạng năng lượng xuất hiện khi đèn pin được bật sáng (hình 48.2). Vẽ sơ đồ chỉ ra sự chuyển hóa năng lượng (còn được gọi là sơ đồ dòng năng lượng) của đèn pin.(trang 168 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

Lời giải tham khảo:

Dạng năng lượng xuất hiện khi đèn được bật sáng: bao gồm điện năng và quang năng.

Sơ đồ chuyển hóa năng lượng là: Hóa năng ⇒ Điện năng ⇒ Quang năng.

Câu hỏi 2: Hình 48.3 mô tả một máy sấy tóc đang hoạt động. Mũi tên trên sơ đồ dòng năng lượng cho thấy sự chuyển hóa điện năng thành ba dạng năng lượng khác. (trang 168 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

a) Tên ba dạng năng lượng đó là gì?

b) Nêu thêm một thiết bị điện biến đổi điện năng thành các dạng năng lượng khác.

Lời giải tham khảo:

a) Tên ba dạng năng lượng đó là: cơ năng, nhiệt năng, năng lượng âm.

b) Các thiết bị biến đổi điện năng thành các dạng năng lượng khác: ví dụ như quạt, tivi, điện thoại, nồi cơm điện,…

Câu hỏi 3: Hóa năng có thể chuyển hóa thành các dạng năng lượng nào? (trang 168 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

Lời giải tham khảo:

Hóa năng có thể chuyển hóa thành các dạng năng lượng như: điện năng, thế năng, nhiệt năng, năng lượng ánh sáng, năng lượng âm, động năng.

Câu hỏi 4: Hoàn thành các câu sau đây bằng cách ghi vào vở (hay phiếu học tập) các từ hoặc cụm từ trong khung thích hợp với các khoảng trống, được đánh số thứ tự từ (1) đến (6). (trang 168 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

a) Hóa năng lưu trữ trong thực phẩm, khi ta ăn, được chuyển hóa thành ___(1)___ giúp ta đạp xe.

b) Hóa năng lưu trữ trong que diêm, khi cọ xát với vỏ bao diêm, được chuyển hóa thành ___(2)___ và ___(3)___

c) Hóa năng trong nhiên liệu (xăng, dầu, ) khi đốt cháy được chuyển hóa thành ___(4)___, ___(5)___ và ___(6)___ của máy bay, tàu hỏa.

Lời giải tham khảo:

a) (1) động năng.

b) (2) nhiệt năng, (3) năng lượng ánh sáng.

c) (4) động năng, (5) điện năng, (6) thế năng.

Xem thêm :  ✅ Bài thơ về hóa học ⭐️⭐️⭐️⭐️⭐

HOẠT ĐỘNG

Thực hiện:

  • Quấn một dây cao su xung quanh que tăm và luồn qua lõi ống chỉ như Hình 48.4
  • Dùng băng dính dán để giữ cố định que tăm vào ống chỉ
  • Luồn dây cao su qua vòng đệm và quấn quanh bút chì
  • Vặn bút chì để xoắn dây cao su
  • Đặt ống chỉ trên một bề mặt mịn và thả tay giữ bút chì ra

a) Tại sao ống chỉ lăn được? (trang 168 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

Lời giải tham khảo:

a) Ống chỉ có thể lăn được vì cơ năng từ việc vặn bút đã được chuyển hóa thành động năng,

b) Làm thế nào để ống chỉ lăn xa hơn? (trang 168 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

Lời giải tham khảo:

b) Để ống chỉ có thể lăn xa hơn, ta cần vặn bút chì nhiều vòng hơn.

II. ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN NĂNG LƯỢNG

Câu hỏi 1: Thí nghiệm về sự bảo toàn năng lượng  (trang 169 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

Thực hiện thí nghiệm sau đây để nghiên cứu về sự chuyển hóa và bảo toàn năng lượng trong một chuyển động cơ học.

Chuẩn bị: Hai con lắc (gồm 2 quả cầu giống hệt nhau, treo bằng hai dây nhẹ dài bằng nhau), giá treo cố định, thước mét, tấm bìa đánh dấu hai điểm A, B có cùng độ cao (hình 48.5)

Tiến hành:

  • Kéo quả cầu (2) đến điểm B (nằm trong mặt phẳng của tấm bìa như hình 48.5) rồi thả ra.
  • Quả cầu (2) chuyển động về vị trí ban đầu va chạm vào quả cầu (1), làm cho quả cầu (1) lên đến vị trí A cùng độ cao với vị trí B.

Thảo luận: Thí nghiệm chứng tỏ điều gì?

Lời giải tham khảo:

Thí nghiệm trên chứng tỏ rằng, năng lượng không tự sinh ra hoặc tự mất đi mà nó chỉ truyền từ vật này sang vật khác.

Câu hỏi 2: Một em bé đang chơi xích đu trong sân. Muốn cho xích đu luôn lên tới độ cao ban đầu, thỉnh thoảng người bố phải đẩy vào xích đu (hình 3.6). Tại sao cần làm như thế? (trang 170 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

Lời giải tham khảo:

Muốn cho xích đu luôn lên tới độ cao ban đầu, thỉnh thoảng người bố phải đẩy vào xích đu vì trong quá trình chuyển động, xích đu và cậu bé va chạm với không khí và lực cản của không khí làm tiêu hao một phần năng lượng của cậu bé và xích đu, vì vậy thi thoảng cần phải đẩy vào xích đu để nó lên độ cao ban đầu.

Câu hỏi 3: Hoàn thành các câu sau đây bằng cách ghi vào vở (hay phiếu học tập) các từ hoặc cụm từ trong khung thích hợp với các khoảng trống, được đánh số thứ tự từ (1) đến (10). Ví dụ (1) – thế năng (trang 170 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

a) Khi quả bóng được giữ yên ở trên cao, nó đang có ___(1)___

Xem thêm :  Phương trình bậc hai với hệ số thực và Phương trình số phức

Khi quả bóng được thả rơi, ___(2)___ của nó được chuyển hóa thành ___(3)___

b) Quả bóng không thể nảy trở lại độ cao ban đầu, nơi nó được thả rơi, bởi vì không phải tất cả ___(4)___ của nó biến thành ___(5)___. Thực tế, luôn có một phần năng lượng của nó được chuyển hóa thành ___(6)___ và ___(7)___ trong khi va chạm.

c) Trong quá trình chuyển động của quả bóng, luôn có sự ___(8)___ từ dạng năng lượng này sang dạng năng lượng khác. Năng lượng toàn phần của quả bóng luôn được ___(9)___ không bao giờ ___(10)___ hoặc được tạo ra thêm.

Lời giải tham khảo:

a) (1) – thế năng, (2) – thế năng, (3) – động năng.                       

b) (4) – động năng, (5) – thế năng, (6) – điện năng, (7) – năng lượng âm.                

c) (8) – chuyển hóa, (9) – bảo toàn, (10) – tự mất đi.

HOẠT ĐỘNG

Quả bóng nảy

* Chuẩn bị: 1 quả bóng tennis hoặc bóng cao su, thước dây (hoặc thước cuộn), một sợi dây dài hơn 1m

* Tiến hành: 

  • Thả rơi quả bóng tennis ở độ cao 1m so với sàn nhà. Dùng sợi dây căng ngang ở độ cao 1m để làm mốc (Hình 48.7)
  • Yêu cầu các bạn trong nhóm đo độ cao mà quả bóng đạt được sau lần nảy đầu tiên

Câu hỏi 1: Nêu nhận xét về kết quả đo được. Giải thích tại sao? (trang 170 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

Lời giải tham khảo:

Sau lần nảy bóng đầu tiên, quả bóng không đạt được độ cao như ban đầu, vì:

  • Quả bóng khi rơi từ độ cao xuống mặt đất sẽ phải chịu lực cản của không khí, va chạm mặt đất và còn phát ra âm.
  • Năng lượng cơ năng của quả bóng, một phần sẽ bị chuyển hóa thành nhiệt năng tỏa nhiệt ra môi trường, làm nóng mặt đất và năng lượng âm.

Do đó, quả bóng không có cơ năng như ban đầu nên không đạt được độ cao như ban đầu.

Câu hỏi 2: Có phải trong trường hợp này, định luật bảo toàn năng lượng không còn đúng? (trang 170 SGK KHTN 6 [KẾT NỐI TRI THỨC])

Lời giải tham khảo:

Trong trường hợp này, năng lượng không bị mất đi mà đã chuyển hóa thành một phần nhiệt năng và năng lượng âm nên định luật bảo toàn năng lượng vẫn đúng trong trường hợp này.

Khi copy nhớ ghi nguồn : https://globalizethis.org nhé . Chúc bạn may mắn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

This site uses cookies to offer you a better browsing experience. By browsing this website, you agree to our use of cookies.